Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

NGUYỄN VĂN LINH VÀ CÁC ANH - LỊCH SỬ MÃI KHẮC GHI

LỊCH SỬ KHẮC GHI 

Phạm Đình Trọng


TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN VĂN LINH
Run rảy trước sự sụp đổ ầm ầm không thể cứu vãn của thế giới cộng sản, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh hốt hoảng sang Thành Đô đất Ba Thục bên Tàu kí mật ước Thành Đô nhận sự bảo kê của Tàu Cộng. Trái tim yêu nước quặn đau vì mật ước Thành Đô, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch phải thốt lên: Thời kì Bắc thuộc thứ năm đã bắt đầu!

TỔNG BÍ THƯ LÊ KHẢ PHIÊU
Trong nhiệm kì Tổng bí thư Lê Khả Phiêu 1997 – 2001, Hiệp định biên giới Việt Trung 1999 được kí kết. Theo Hiệp định này Việt Nam bị mất:

- Mất hoàn toàn tòa thành cổng nước oai hùng của lịch sử Việt Nam hiển hách ở Lạng Sơn.

- Mất phần hùng vĩ, tráng lệ, lung linh nhất của thác Bản Giốc ở Cao Bằng

- Mất dải núi non hiểm yếu 1509 ở Hà Giang, từ đó khống chế cả một vùng rộng lớn Tây Bắc Việt Nam. 

TỔNG BÍ THƯ NÔNG ĐỨC MẠNH
Với những Tuyên bố chung kí kết với Hồ Cảm Đào, Tổng bí thư đảng cộng sản Tàu Cộng, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã bắc chiếc thang bốn tốt cho binh lính Tàu Cộng khoác chiếc áo công nhân khai thác bô xít trèo lên nóc nhà Trường Sơn ở Tây Nguyên khống chế cả bán đảo Đông Dương.

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG
Trong chuyến thỉnh ý Thiên Triều, 4.2015, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mở toang cánh cửa Vịnh Bắc Bộ cho Tàu Cộng vào ghé phần cùng Việt Nam thăm dò khai thác dầu khí, biến vùng biển nằm sâu trong lãnh hải Việt Nam thành vùng biển chung, vùng biển chồng lấn! Rồi sẽ đến lúc vùng biển nằm sâu trong vịnh Bắc Bộ Việt Nam có chung số phận với tòa thành cổng nước ở Lạng Sơn!











































ÔNG NGUYỄN VĂN LINH CÓ CÔNG TRẠNG GÌ VỚI ĐẢNG VÀ VỚI DÂN?

Ông Nguyễn Văn Linh: 
công trạng với đảng và với dân


30-06-2015

Hôm còn ở Sài Gòn, đi trên đường thỉnh thoảng thấy hình ông Nguyễn Văn Linh (NVL) được treo khá ư trang trọng. Bây giờ mới biết là ngày mai là ngày lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Nói đến tên ông này, rất nhiều người (trong đó có tôi) nghĩ rằng ông là người rất cấp tiến, người chủ xướng phong trào “Đổi mới” cứu Việt Nam khỏi sự suy sụp về kinh tế, người cởi trói văn nghệ, v.v. Nhưng sau này biết thêm chút thì thấy tất cả những hiểu biết đó đều … sai, vì trong thực tế ông là một người rất bảo thủ.

Chẳng cần tìm chứng cứ đâu xa về tính bảo thủ của ông. Ví dụ như hôm nay, có bài “Người không chấp nhận đa nguyên, đa đảng” trên Vietnamnet (1), và “người” ở đây chẳng ai khác hơn là ngài NVL! Tôi hết sức ngạc nhiên khi người ta chạy cái tít hết sức bảo thủ như thế trên báo, giữa thanh thiên bạch nhật. Điều đó cũng là một phát biểu của vài người đang lãnh đạo đất nước hiện nay.

Nhưng đây không phải là lần đầu tiên chúng ta biết được tính bảo thủ của ông NVL. Theo Hồi kí “Hồi ức và Suy nghĩ” của Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ (ông mới qua đời tuần này) thì ngay từ thập niên 1980s khi thế giới XHCN sụp đổ, ông NVL đã triệu tập Bộ Chính trị là nói rằng: “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa!” (2) Nói là làm. Sau đó, ông sang Tàu kí kết hiệp định Thành Đô mà cho đến nay chẳng ai biết nội dung là gì, chỉ biết ông Trần Quang Cơ nhận định rằng “Sở dĩ ta bị mắc lừa ở Thành Đô vì chính ta lừa ta! Ta ảo tưởng Trung Quốc giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và XHCN thế giới, chống lại hiểm họa “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Sai lầm đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm: Giải háp Đỏ”. Còn Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch nhận định rằng “Trung Quốc đã sử dụng Hội nghị Thành Đô để phá mối quan hệ Việt Nam với các nước, chia rẽ nội bô ta, kéo lùi tiến trình đổi mới của ta” và ông cảnh báo rằng một thời Bắc thuộc thứ IV đã bắt đầu.

Các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng CSVN đến Thành Đô, cam kết theo Tàu.

Trong cuốn sách “Bên thắng cuộc”, Huy Đức thuật lại rằng năm 1989, khi mà thế giới XHCN đang sụp đổ liên hoàn, thì ông NVL có một chuyến công du sang Đông Đức với mục tiêu chính là cứu vãn chủ nghĩa xã hội. Ông định nhân dịp này triệu tập một hội nghị các đảng cộng sản để cứu phong trào cộng sản quốc tế. Trong buổi họp, ông NVL gọi Gorbachev là “kẻ cơ hội nhất hành tinh này”.

Chẳng hiểu sao lời nói đó đến tai Gorbachev, và như là một trả đũa Gorbachev tỏ thái độ khinh miệt NVL ra mặt. Khi NVL xin được tiếp kiến Gorbachev (lúc đó cũng đang có mặt ở Đông Đức) để bàn việc cứu vãn tình thế, Gorbachev cố tình cho NVL “leo cây” vài lần. Nhưng cuối cùng thì Gorbachev cũng ban cho ông Linh một ân huệ: được diện kiến ông ấy. Huy Đức viết về buổi tiếp kiến như sau:

“Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. […]

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một tòa lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: ‘Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh’.”

Đúng là một lời mỉa mai chẳng cần dấu giếm gì cả. Nhưng đọc đoạn Gorbachev đối xử với ông NVL mới thấy chua chát. Trong khi ông NVL nhiệt tình trình bày đại kế hoạch nhằm cứu phong trào cộng sản thì Gorbachev tỏ ra thờ ơ và lãnh đạm, và khinh thị ra mặt. Ý kiến nào của ông NVL cũng được Gorbachev phê là “rất tốt”, mà không buồn tình nói gì thêm. Khi NVL đề nghị Gorbachev đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản quốc tế, thì “Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: ‘Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!’.” Vui nhất là khi ông NVL mời Gorbachev đến thăm Việt Nam, thì “Gorbachev lại kêu lên: ‘Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước’.” Khi ông NVL đề cập xin viện trợ thì “Gorbachev xua tay, không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: ‘Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi’.” Ấy thế mà ngày hôm sau báo Nhân Dân đưa tin “cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”.

Câu chuyện trên cho thấy ông NVL hình như không biết những diễn biến trên thế giới, nên ông vẫn nghĩ rằng có thể cứu vãn chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản. Ông không hề biết kẻ ông phê phán là “cơ hội” lại chính là kiến trúc sư đang giật sập bức tường Bá Linh. Chỉ hơn một tháng rưỡi sau khi hội kiến với ông NVL trong nỗ cứu vãn phe xã hội chủ nghĩa, ngày 25-12-1989, Tổng bí thư Nicole Ceausescu và vợ ông đã bị những người biểu tình đem ra xử bắn ở Romania.

Trong “Bên thắng cuộc”, Huy Đức qua lời kể của những người trong cuộc mô tả ông NVL có tính hơi nhỏ mọn (3). Ít ai biết rằng ông NVL không ưa ông Võ Văn Kiệt. Khi ông NVL mất chức trong Bộ Chính trị và về sống ở Sài Gòn, ông phàn nàn rằng “Khi tôi mất Bộ Chính trị, về Sài Gòn, Sáu Dân không bao giờ gặp tôi.” Đó là một trong những lí do ông Linh không chọn ông Kiệt làm thủ tướng. Ông NVL từng nhận xét ông Kiệt như sau: “Dốt mà không chịu học. Làm Uỷ ban Kế hoạch còn không xong lấy đâu ra thủ tướng” (3). Chẳng những không ưa ông Kiệt, ông NVL còn làm hại đàn em của ông Kiệt, như cụ thể việc ông ra lệnh bắt giam ông Dương Văn Ba (4), một người từng giúp ông Kiệt trong thời chiến và sau này điều hành một công ti khai thác gỗ với Lào.

Báo chí chính thống ngày nay viết rằng ông NVL là người có công Đổi mới. Nhưng hình như ông Trường Chinh (chứ không phải NVL) mới là người đề xướng chủ trương này. Mà thật ra, cũng chẳng có gì hay ho trong việc “Đổi mới” vì đó là điều tất yếu trong bất cứ xã hội nào. Nhưng tôi nghĩ báo chí đánh giá đúng là ông NVL có “cống hiến to lớn, quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của đảng” (5), vì rõ ràng là ông đã thành công duy trì sự lãnh đạo của đảng CS ở VN trong khi các đảng CS khác bên Đông Âu đều tiêu tan. Còn công trạng của ông NVL đối với đất nước và nhân dân — nếu có — thì nên để cho các nhà sử học sau này đánh giá công minh hơn, nhất là đến ngày mà sự kiện “Thành Đô” sẽ được bạch hoá.
____

(3) Bên Thắng Cuộc – Chương 14: Khoảng cách Linh – Kiệt (vinadia).


Nguyễn Khắc Mai: LẠI HẦU CHUYỆN ANH TƯ SANG

Sự thật những suy nghĩ của dân

Nguyễn Khắc Mai
(Lại hầu chuyện Anh Tư Sang)
 
 30-06-2015
Kính thưa anh Tư,
Tôi rất hứng thú theo dõi, đọc tin gặp mặt cử tri của Anh, mỗi lần chuẩn bị họp hay đã họp xong kỳ họp Quốc hội. Bao giờ tôi cũng bắt gặp môt ý kiến đáng phải suy nghĩ của Anh, điều mà những anh Trọng, anh Hùng không có được, trừ cái lần hy hữu khi anh Trọng khẳng định “trăm năm nữa cũng không có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” mà tôi bình luận rằng, như thế là chỉ có một thứ chủ nghĩa xã hội không “hoàn”, tức là vẫn méo mó, đầy lỗ hổng, lại không “thiện” tức là vẫn chỉ là ác mà thôi. Phần lớn những cuộc nói chuyện của họ là rất nhạt. Anh biết không, cái “nhạt” là một phạm trù rất đặc sắc trong văn chương, thi ca. Còn cái nhạt trong chính trị thì phải nói là vô bổ, tốn tiền, tốn thì giờ và nhất là tốn tín nhiệm, nghĩa là ném tín nhiệm đi một cách rất vô…(nghĩa, vô văn hóa, vô lương…)

Lần này, anh nêu vấn đề “Phải nói sự thật những suy nghĩ của Dân” (đáng tiếc là báo lề đảng họ quên không viết hoa chữ Dân). Anh tế nhị nêu ra một sự thật là các đại cử tri chỉ là những bí thư chi bộ, tổ trưởng dân phố (tôi biết rõ họ phần lớn là cán bộ đoàn thể của đảng). Với thành phần như thế họ nói ra chút ít sự thật và chỉ là nhũng sự thật không làm mất lòng người nghe trực tiếp và nhất là những người nghe không trực tiếp nhưng quan trọng đó là các A, các Tuyên…các thủ trưởng ở nhà. Làm sao họ có thể nói hết sự thật cho anh nghe được. Mà chỉ một mình anh nghe thì được cái gì, những người khác họ có muốn nghe như anh không. Nói được chút ít sự thật trên ngọn là họ đã dũng cảm lắm. Nhưng như thế để làm gì.


Chắc anh cũng bức xúc lắm mới than thở như vậy.

Anh có biết ở những nước văn minh, họ “ nghe” và “nói” “sự thật những suy nghĩ của Dân” như thế nào không? Họ không hời hợt và giả vờ như ở ta. Ở Hy lạp đấy, đầu tháng bảy này họ sẽ trưng cầu ý kiến của dân để quyết đi hay ở lại với Liên minh châu Âu. Ở nước ta vấn đề trưng cầu ý kiến nhân dân vẫn chưa có luật, nhiều nghị sĩ còn chê dân trí thấp… Chỉ mỗi cái quyền được bày tỏ ý kiến nguyện vọng “sự thật” của Dân mà Quốc Hội mười mấy khóa vẫn không hiểu, không có đủ “năng lực lập pháp” để phụng sự Dân, những cuộc hỏi ý kiến đại cử tri trở nên ngớ ngẫn như anh đang bức xúc. Mà chính cũng tại anh trong cương vị Chủ Tich Nhà Nước cũng đã không làm sao để có luật, có dân chủ để có thể nghe sự thật của Dân.

Ở những nước văn minh, họ có đủ luật lệ và phương thức để nghe và nói “sự thật những suy nghĩ của Dân”. Đó là tự do báo chí. Tư nhân, các nhóm tư nhân (thật ra là những nhóm công dân.Tôi nhấn lại Công dân chứ không phải tư nhân). Ở nước ta công dân chẳng có quyền gì, ngoài những quyền tuân phục và xin xỏ. Báo chí là của nhiều nhóm công dân. Ở nước ta chỉ là của một nhóm công dân. (Nhân đây tôi ví dụ tín đồ các Tôn giáo ở ta có đến 20-30 triệu. Họ đóng thuế, thế mà mấy Tôn giáo lớn họ có buổi phát thanh truyền hình dành riêng cho họ đâu.) Vì sao thế. Vì báo chí của ta chỉ là báo chí của riêng nhóm cộng sản. Khi người cộng sản chưa cầm quyền, họ chỉ là đảng. Khi họ đã cầm quyền họ phải là Dân tộc. Họ khư khư giữ đảng nên đã đánh mất tư cách là dân tộc. Nhân tiện nói rõ, họ đã không còn tính chính thống khi hành xử như vậy. Khi thật sự, (tôi xin lặp lại từ thật sự của Anh), chúng ta có báo chí tự do, các nhóm công dân có quyền ra báo, thì khi ấy anh chẳng cần đặt câu hỏi ấy nữa.

Thứ nữa là họ có chế đô chính trị đa đảng. Các đảng họ sẽ nói lên “những sự thật” mà họ dùng để tranh đua giành lấy tín nhiệm và phiếu bầu. Họ làm cho các sự thật khác nhau được phơi bày để xã hội và chính quyền có thể có được cái nhìn hệ thống, những sự thật được xem xét dưới nhũng góc nhìn toàn diện. Dẫu trong Tuyên ngôn cộng đồng chủ nghĩa, mà ta dịch là cộng sản, có nhiều điều lầm lẫn, nhưng Mác và Ăng ghen cũng đã nhìn thấy một sự thật là các dân tộc hiện đại rất cần đa nguyên đa đảng. Vì chúng ta theo thể chế xô viết và tư duy phản động mao ít, (anh em bảo với tôi là chúng ta không mao ít, mà trái lại là rất mao nhiều) nên đã làm ngược với Tuyên ngôn này. Trong ấy viết rõ: “Các đảng cộng sản phải biết phấn đấu để đoàn kết và hợp tác với các đảng dân tộc dân chủ trong mỗi dân tộc” Thế mà từ thời Hồ Chí Minh dẫu có hai đảng “cây cảnh” là Xã hội, và Dân chủ thì ông Nguyễn Văn Linh (ta đang ca ngợi hết lời) đã “phấn đấu” dẹp bỏ. Tôi cũng không hiểu nỗi tại sao các người lãnh đạo của đảng “ta” lại lạc hậu đến như vậy. Cho nên anh làm Chủ tịch nước trong một thể chế như thế này mà mong nghe được sự thật của Dân thì khó lắm. Nếu có đa đảng, anh chỉ cần nghe họ tranh luận là đủ biết ý kiến của các nhóm Dân, không còn phải thao thức như thế này nữa.

Trong tình hình hiện nay, khi còn phải chờ đợi, nếu muốn nghe “sự thật những suy nghĩ của Dân”, tôi xin đề nghị Anh hãy tổ chức một nhóm nhỏ lối hai mươi người, nhóm người của anh chọn độ mươi người, tôi cũng xin chọn mời lối mươi người, ta sẽ bắt chước Quốc Hội “họp kín” như để nghe tình hình Biển Đông mà không cho Tàu nó biết thêm rách việc. Anh sẽ nghe được những sự thật gốc rễ hơn và từ những sự thật ấy, chúng ta sẽ tìm ra lời giải cho những bài toán của dân nước một cách thật thà, trung chính và nhất là có đạo đức của trách nhiệm và hiệu quả. Như thế sẽ căn cơ hơn, khoa học hơn cũng văn minh hơn, thiết thực và hiệu quả, để chúng ta khỏi cứ mỗi lần họp “đại cử tri” lại cùng nhau bức xúc và than vãn.

Tôi ngồi trong phòng nóng, viết cho anh những lời nóng nảy. Xin Anh thứ lỗi. 
Kính chúc Anh vạn an.

Tác gỉa gửi cho viet-studies ngày 30-6-15

VĨNH BIỆT TRẦN QUANG CƠ - MỘT NHÂN CÁCH CAO QUÝ

Trân quý một nhân cách

(Ghi nhớ về một “bài viết cuối cùng” của Nguyên Thứ trưởng thứ nhất
Bộ Ngoại Giao Trần Quang Cơ, khi đó ông 83 tuổi)

Nguyễn Vĩnh
01-07-2015
 
Lứa chúng tôi gọi bác Trần Quang Cơ[1] một cách thân tình là anh Cơ. Cả hồi còn làm việc cũng như lâu nay anh nghỉ hưu; và ngay cả mấy năm gần đây ông già tuổi hạc quá nửa “bát thập” rồi thì chúng tôi vẫn cứ một cách xưng hô tình cảm như thế với anh.

Trong bộ ngoại giao, anh Cơ nhiều năm liên tục giữ trọng trách, từ vụ trưởng, đại sứ, thứ trưởng, thứ trưởng thứ nhất (sau này gọi là thứ trưởng thường trực). Về đảng, anh là ủy viên trung ương từ 1986 đến 1994; và có thời điểm được Bộ chính trị dự kiến trao anh trách nhiệm làm bộ trưởng ngoại giao thay ông Nguyễn Cơ Thạch nghỉ hưu “bất thường”. Nhưng khi đó anh Cơ một mực xin được “không đảm đương” chức vụ cao hơn này.

Anh Cơ còn có ý thức “nhường ghế” cho lứa anh em ít tuổi trong Bộ để mình lui dần về tuyến sau, yểm trợ lớp kế nhiệm, cho đến khi anh rút hẳn nơi hậu trường, rồi về nghỉ hưu hoàn toàn. Nói thế bởi đến đầu năm 1994, tại Hội nghị Đảng khóa VII giữa kỳ, anh Cơ đã tự nguyện xin rút khỏi BCH trung ương, được chấp nhận; và ngành ngoại giao khi ấy đã được bầu bổ sung một ủy viên trung ương trẻ hơn là thứ trưởng Lê Mai.

Cử chỉ và cách hành xử đó rõ là hiếm gặp ở những cán bộ lãnh đạo cao cấp khác. Tấm gương Trần Quang Cơ được mọi người trong ngành chúng tôi hết sức quý trọng và nể phục.

.
Bạn bè và đồng nghiệp đên thăm nhà ngoại giao lão thành Trần Quang Cơ 
(ngày 20/4/2014). Tác giả Nguyễn Vĩnh đứng ngoài cùng bên phải. (Ảnh của tác giả)

Trong 40 năm công tác của tôi thì có thời kỳ từ 1993-1997 được làm việc trực tiếp dưới quyền anh Trần Quang Cơ. Đó là quãng thời gian tôi chuyên trách làm công việc chuẩn bị tổ chức cho Hội nghị thượng đỉnh Pháp ngữ lần thứ 7 tại Hà Nội (tháng 11/1997), nhưng là lần đầu tiên tại Việt Nam.


Tôi nhớ lại hồi ấy, sau một vài người giới thiệu, tháng 4/1993 anh Trần Quang Cơ đã thay mặt lãnh đạo Bộ Ngoại giao điều động tôi tham gia cùng với một nhóm gọn nhẹ của Bộ triển khai các công việc chuẩn bị hội nghị. Từ một vị trí lãnh đạo báo Quốc Tế, cơ quan báo chí của Bộ Ngoại giao, tôi sang làm Vụ phó Vụ các Tổ chức quốc tế chuyên trách chuẩn bị cho hội nghị Pháp ngữ. Khi ấy Vụ này do chị Tôn Nữ Thị Ninh làm Vụ trưởng. Bỏ lại một công việc lý thú là báo chí không phải tôi thích thú gì nhưng trước việc đã được điều động, tôi nhanh chóng thích ứng với công việc mới.

Phải nói gần như trước đó anh Cơ biết rất ít về cá nhân và năng lực của tôi. Nhưng sau vài lần trực tiếp giao việc và kiểm tra, anh nói với một người mà sau này nói lại cho tôi, là anh ấy đã có một lựa chọn con người và công việc thích hợp khi quyết định thuyên chuyển và giao việc cho tôi.

Thời điểm 1993-1994 đó, nước ta chưa tổ chức một hội nghị cấp thượng đỉnh có nhiều nguyên thủ quốc gia (tổ chức Pháp ngữ có hơn 50 nước tham gia) tới dự bao giờ nên cái gì cũng bỡ ngỡ. Điều đó giải thích vì sao chúng ta phải chủ động để ra hẳn mấy năm chuẩn bị tập dượt và đào tạo nhân lực. Càng về sau càng thấy đó là một quyết định đúng đắn của Bộ Ngoại giao.

Bắt đầu công việc, hầu như đụng vào việc gì cũng ngỡ ngàng, đơn giản vì chưa gặp một việc tương tự thế bao giờ. Anh Cơ ở cương vị lãnh đạo vĩ mô nhưng do xuất thân từ người lính, nhiều năm là chuyên viên rồi cấp Vụ giải quyết trực tiếp công việc, nên ở anh không có sự quan liêu, chung chung. Anh là người đầu tiên ở cấp lãnh đạo Bộ nắm và điều khiển công việc chuẩn bị âm thầm này.

Hồi mới có bộ khung, chính anh đã sớm nghĩ sao đó phải lập ra một ủy ban cấp quốc gia để chuẩn bị mọi việc. Bởi một bộ ngoại giao tài giỏi mấy cũng không sao đảm đương được. Phải có đại diện cấp lãnh đạo Bộ của câc ngành khác, sơ tính qua phải hơn chục ngành, như giáo dục đào tạo, văn hóa thông tin, tài chính, khoa học công nghệ, an ninh, rồi UBND Hà Nội – địa phương họp hội nghị; và dứt khoát cần có nơi như văn phòng chính phủ làm “hạt nhân”. Quả như vậy, sau này khi Ủy ban Quốc gia được thành lập, do Phó thủ tướng đứng đầu, có lãnh đạo bộ ngoại giao (lúc đó anh Cơ đã rút về hậu trường, Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin ở vào vị trí này) và lãnh đạo các bộ ngành khác tham gia… đã đặt trụ sở làm việc thường trực cho Ban thư ký của UBQG tại ngay Văn phòng Chính phủ. Cách nhìn nhận của anh Trần Quang Cơ như vậy là rất sát hợp và có tầm trông xa cho công việc.

Trên tôi có nói “âm thầm” thì càng đúng với anh Trần Quang Cơ. Bởi khi công việc triển khai tích cực sắp tới ngày gặt hái kết quả, rồi hội nghị diễn ra sau đó rất thành công, gây ấn tượng mạnh trong Cộng đồng Pháp ngữ về khả năng tổ chức của Việt Nam thì anh Trần Quang Cơ trước đó đã lui về tuyến sau, tiếp đó về nghỉ hưu… Nguyên do anh cho là mình lớn tuổi, không sử dụng biệt lệ để tại vị. Anh Cơ đã không gặt hái thành tích, hưởng vinh quang khi hội nghị thành tựu dù anh đã góp phần xứng đáng tổ chức và xây dựng đội ngũ chuẩn bị cho hội nghị cấp cao này từ những ngày đầu tiên, tức đặt những viên gạch đầu tiên.
.
Trước mặt ông Trần Quang Cơ là ông Lưu Văn Lợi, Nguyên Trưởng Ban Biên giới của Chính phủ; người đứng bên trái là ông Trẩn Tam Giáp, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ai Cập, hiện là Chủ nhiệm CLB cán bộ hưu trí Bộ Ngoại giao. (Ảnh của tác giả)

Nhìn rộng để gút lại thì trong cả hoạt động ngoại giao, làm chính sách cũng như xây dựng ngành, anh Trần Quang Cơ đều làm việc với sự tận tụy và nghiêm túc cao nhất. Anh trực tính và thường đòi hỏi cao nơi các cấp dưới. Phần mình anh rất gương mẫu và hết sức có trách nhiệm trong các quyết định đã quyết, là người giữ vững và bảo vệ nguyên tắc. Nhưng trong đời thường anh Cơ sống cởi mở thân tình, cư xử thân tình và nhân hậu với mọi người. Điều đó khiến nhiều cán bộ ngoại giao quý mến anh và đánh giá rất cao nhân cách và phẩm chất nơi anh. Anh về hưu lâu rồi nhưng nhiều anh chị em lứa sau vẫn nhớ anh, một lòng kính trọng yêu mến anh…

Hồi đó, trong những lần thông tin qua lại với nhau, hoặc email hoặc điện thoại (tôi có “điểm tin” cho anh Cơ một thời gian dài, bởi như anh nói khi không mệt muốn đọc thì chỉ có đọc trên màn hình máy tính, chọn cỡ chữ phóng to lên được, chứ in trên giấy thì mắt mờ không thấy), anh có chút tâm sự là thời gian này, sau những đêm mất ngủ do tuổi già và bệnh tật, anh có viết ra những điều đã ngẫm nghĩ kỹ, đã cân nhắc suy tư của bản thân mình. Anh bảo chuyển những điều đó cho tôi, đơn giản là quý tôi thì “coi như một điều tâm sự” với một người ở thế hệ đi sau. Anh Cơ còn bảo có điểm nào, câu chữ gì trong bài cần góp ý, cần sửa thì cứ sửa giúp cho anh…

Ngay hồi đó tôi đọc ngay và đọc đi đọc lại nhiều lần bài viết của anh. Thấy rõ ràng Trần Quang Cơ vẫn một bộ óc và trái tim nhiệt huyết, ngay cả tuổi tác rất cao và bênh tật hành hạ, anh vẫn dành những suy nghĩ suy tư của mình cho không chỉ bản thân, gia đình mình mà anh còn dành nó cho các vấn đề thuộc nhân quần xã hội. Đặc biệt nhất là anh vẫn dành phần nhiều, với bao nỗi trăn trở và tâm huyết nhất cho các suy tư về đối ngoại – công việc suốt một đời anh Trần Quang Cơ đã phụng sự.

Bài viết của anh được ghi dưới là thời gian anh hoàn thành “tháng Chạp năm 2010”, tôi chợt nghĩ thế là những dòng chữ kia được viết ra “ở đầu một thế kỷ mới” với một người từng trải trên con đường ngoại giao vinh quang và gian khó. Dù sang đầu thế kỷ mới nhưng cái bài toán đối ngoại hóc búa nhất xem ra “không mới”, vẫn cũ, vẫn một thách thức khổng lồ với nước non!…

Bài chỉ gói gọn hơn 6 trang A4, chưa đến 4.000 từ, nhưng trong đó chất chứa những suy tư “tổng kết” cả một đời người của anh. Một ông già 83 tuổi, bệnh tật đau ốm luôn luôn vẫn giữ được tấm lòng thành với cuộc đời và nghề nghiệp ngoại giao.

Đọc xong bài tôi càng quý mến và kính trọng tác giả bài viết. Hồi đó tôi đã xin phép tác giả và trao đổi với tác giả một số đoạn cần lược bớt và biên tập đôi chỗ để tập trung vào các ý tưởng chính yếu mà bài viết muốn nêu lên. Hồi đó cũng rất muốn đưa bài viết lên trang blog cá nhân của mình như một sự chia sẻ với bạn bè, đồng nghiệp gần xa đã một thời thân thiết và quen biết anh Trần Quang Cơ.

Nhưng do còn lấn cấn vài ba điểm trong nội dung, rồi một vài chi tiết còn muốn được tìm hiểu thêm cho tường minh…, nên bài viết của anh Cơ tôi vẫn chưa đưa lên blog. Sau thời gian đó những gì cần thiết đã được chính tôi tìm hiểu, nghiên cứu rất cẩn thận và bổ sung cho bài viết nói trên của anh Trần Quang Cơ. Mấy năm gần đây rất mừng là anh Cơ vẫn “trụ” với bệnh tật được, mấy lần được chị Vượng vợ anh, mời đến nhà chơi tôi vẫn chuyện trò, chia sẻ về bài “Suy tư” với anh…, nên bẵng đi…

.
Người đứng bên phải ông Trần Quang Cơ là ông Nguyễn Trung, Nguyên Trợ lý 
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan (Ảnh của tác giả)

Hôm trước cùng anh Trần Tam Giáp[2], nhiều năm nay là Chủ nhiệm CLB hưu trí Bộ Ngoại Giao vào thăm anh ở phòng cấp cứu Bệnh viện Hữu nghị thì biết là mọi chuyện đã muộn. Chẳng còn cơ hội được nghe anh nói và nói gì với anh nữa…, càng tiếc nuối cuối tháng trước đã không đến vui với ngày sinh nhật của anh mà anh Giáp dự nói là anh tỉnh táo và khỏe hơn hẳn! Còn buổi thăm bây giờ anh trên giường bệnh, được nghe và nhìn chị Vượng nói về lần cấp cứu này (anh bị đột quỵ nhiều lần), thì càng thấy sự chăm sóc của chị và gia đình cùng thầy thuốc với anh là hết sức hết lòng rồi, nhưng chắc là khó qua khỏi…

Giờ đây nhà ngoại giao lão luyện Trần Quang Cơ đã vĩnh viễn đi xa, được sự gợi ý và động viên của nhiều bạn bè và đồng nghiệp, tôi thấy nên viết ít dòng này và công bố bài viết đầy tâm huyết và có giá trị ở giai đoạn cuối đời của Ủy viên trung ương Đảng, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại Giao Trần Quang Cơ.

Nguyễn Vĩnh
Nguyên Vụ trưởng, Tổng biên tập báo Quốc Tế, Bộ Ngoại giao 
________

Trần Quang Cơ: Suy Tư

[1] Ông Trần Quang Cơ, sinh ngày 22/5/1927 tại xã Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, trú quán tại ngõ 23 đường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội, đã từ trần hồi 23g45 ngày 25/6/2015 tại Hà Nội, hưởng thọ 88 tuổi.
[2] Ông Trần Tam Giáp, nguyên Vụ trưởng Bộ Ngoại Giao, Nguyên Đại sứ nước ta tại Ai Cập.

Nguyên văn bản gốc của tác giả. Viet-studies nhận được ngày 30-4-15.


FACEBOOK, MẠNG XÃ HỘI VÀ ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ

Facebook, mạng xã hội và đời sống chính trị
BBC

30-06-2015


Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son nói những người dùng Facebook để "nói xấu Đảng, nhà nước thì cần phải nghiêm trị"
Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son nói những người dùng Facebook để “nói xấu Đảng, nhà nước thì cần phải nghiêm trị”

Chủ đề “bảo vệ lợi ích quốc gia trên mạng”, một trong bảy nhóm vấn đề chính trong Dự luật An toàn thông tin được thảo luận tại kỳ họp Quốc hội Việt Nam lần này, càng trở nên nóng khi Bộ trưởng Truyền thông và Thông tin Nguyễn Bắc Son mới đây tuyên bố phải ‘nghiêm trị’ đối với việc sử dụng Facebook để “nói xấu Đảng, nhà nước”.

Trong lúc thừa nhận rất khó áp dụng các biện pháp chế tài đối với hoạt động trên Facebook, Bộ trưởng Son khẳng định giới chức vẫn đang “tìm cách giải quyết” bởi “nếu đăng thông tin bôi xấu người khác thì quyền tự do của anh lại vi phạm pháp luật, vi phạm quyền tự do của người khác”.

Facebook là mạng xã hội được ưa chuộng tại Việt Nam, với tổng số người dùng hàng tháng lên đến 30 triệu người, theo số liệu được đưa ra gần đây.

Phản ứng ngay lập tức của Nguyễn Tiến Trung, một cựu tù nhân chính trị ở TP. HCM, là: “Tôi và cộng đồng mạng thấy bất bình về câu nói của Bộ trưởng Son. Cộng đồng mạng phản đối chuyện này.”

Theo Tiến Trung, “cần phân biệt giữa ‘nói xấu, bôi nhọ’ với việc nói ra sự thật. Nếu người dân nói ra sự thật và sự thật đó đúng là xấu xa thì chúng ta không thể nói rằng đó là họ nói xấu được. Đó là họ nói thật.”

“Không thể cấm dân phê phán chính phủ. Chính phủ là do dân bầu ra, thậm chí dân có quyền phế truất, thay đổi chính phủ thông qua lá phiếu của mình. Bản thân tôi khi ở trong quân đội thì suốt ngày phải phê bình và tự phê bình. Vậy khi người dân phê bình Đảng Cộng sản thì không thể quy chụp là họ nói xấu Đảng được.”

Ông Đinh Đức Hoàng, một chuyên gia về truyền thông xã hội ở Việt Nam, cũng cho rằng tuyên bố của ông Son là không cần thiết. “Các hoạt động xâm phạm lợi ích của Đảng và Nhà nước trước nay vẫn đang được điều chỉnh bởi các điều 258 và điều 88 Bộ luật Hình sự.”

“Việc điều chỉnh này trên bất kỳ môi trường nào, dù là Facebook hay báo chí chính thống cũng không có gì khác nhau.”

Sự kiểm soát của nhà nước

Giới chức cho rằng việc các trang mạng như Facebook đặt máy chủ ở nước ngoài khiến công tác kiểm soát thông tin trở nên khó khăn. Đó là một trong những lý do khiến chính phủ quy định các nhà cung cấp dịch vụ phải đặt ít nhất là một máy chủ ở Việt Nam để “dễ dàng giải quyết những vấn đề phát sinh”, theo lời Bộ trưởng Son.

Nguyễn Tiến Trung nêu quan điểm “chính quyền không thể làm cảnh sát mạng được”.

Giải pháp thích hợp nên là “những người cảm thấy bị xúc phạm hãy tự đưa đơn lên tòa yêu cầu phân xử, thay vì chính quyền phải đi theo dõi từng tài khoản Facebook xem có ai nói xấu ai, rồi bắt bớ đàn áp”, tuy Tiến Trung nói anh thấy việc nhà nước có kiểm soát ở chừng mực nhất định là điều hợp lý.

Ông Đinh Đức Hoàng thì cho rằng trong lĩnh vực kiểm soát thông tin và chống tình trạng bôi nhọ, nói xấu, giới chức cần bảo vệ quyền lợi các công dân như nhau.

“Gần đây trên mạng xã hội xuất hiện nhiều loại thông tin mang tính công kích cá nhân hoặc tung hoang tin về vấn đề sức khỏe, thậm chí cả về sự sống hay cái chết của một số cá nhân. Tôi cho rằng đó là vấn đề cần có sự quản lý của nhà nước, không phân biệt đó là thông tin nhắm vào lãnh đạo Đảng và nhà nước hay nhắm vào người bình thường.”

Sự kiểm soát quá chặt chẽ là điều không chỉ không phù hợp với xu thế phát triển xã hội, mà còn là không khả thi, theo đánh giá của ông Hoàng.

“Việc đặt trang chủ ở bất kỳ đâu trên thế giới là xu hướng tất yếu, không thể tạo ra một biên giới cứng nhắc về lãnh thổ trong lĩnh vực này được. Ở Việt Nam, có một giai đoạn người dùng khó vào Facebook và người ta giải thích đó là do lỗi kỹ thuật,” ông Hoàng nói.

“Tôi cho rằng ở Việt Nam, việc mọi người gặp khó khăn khi vào một trang nào đó không phải là do biện pháp quản lý của nhà nước. Bởi một khi Facebook còn hoạt động, Google còn hoạt động thì việc chặn một vài trang web sẽ là không có ý nghĩa–thông tin vẫn lây lan trên internet mà hoàn toàn không thể kiểm soát được, trừ phi đóng cửa hoàn toàn như Trung Quốc.”


“Tôi tin rằng để hạn chế tự do trên internet thì giới chức sẽ có nhiều cách. Chúng ta từng chứng kiến mô hình Trung Quốc, nơi họ áp dụng chính sách rất thẳng thắn, mạnh tay. Nếu muốn thì [giới chức Việt Nam] đã áp dụng mô hình như thế, giống như Trung Quốc cấm Facebook và Google hoạt động vậy. Chính phủ Việt Nam đã không chọn phương thức này,” ông Hoàng nói thêm.

Vai trò của truyền thông xã hội tại Việt Nam

Tuy nhiên, theo ông Hoàng thì truyền thông xã hội chưa thực sự đóng vai trò quan trọng vào đời sống chính trị ở Việt Nam.

Ông nói: “Cho đến giờ, truyền thông xã hội chưa phát huy tốt hiệu quả trong hoạt động phản biện hay tham gia vào đời sống chính sách của Việt Nam. Các hoạt động phản biện mới chỉ diễn ra một cách nhỏ lẻ. Việc này cần có thêm thời gian mới có thể thấy tác động của truyền thông xã hội lên đời sống chính trị Việt Nam.”
 
 Nguyễn Tiến Trung: "Nếu như có chuyện đàn áp bắt bớ xảy ra thì những người như chúng tôi, vốn đã nói thẳng, nói thật từ lâu nay rồi, sẽ phải đi tù trước tiên chứ không thể đến lượt họ. Việc đàn áp diện rộng hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn người trên mạng xã hội sẽ không thể xảy ra như trước kia được nữa."
Nguyễn Tiến Trung: “Nếu như có chuyện đàn áp bắt bớ xảy ra thì những người như chúng tôi, vốn đã nói thẳng, nói thật từ lâu nay rồi, sẽ phải đi tù trước tiên chứ không thể đến lượt họ. Việc đàn áp diện rộng hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn người trên mạng xã hội sẽ không thể xảy ra như trước kia được nữa.”

Về vấn đề này, cựu tù nhân Nguyễn Tiến Trung cho rằng nhiều người dân vẫn có tâm lý e dè, không dám bày tỏ chính kiến trên mạng xã hội là bởi “Đảng Cộng sản từ trước tới nay thường đàn áp những người lên tiếng phản kháng nhà cầm quyền”.

Tuy nhiên, Tiến Trung nhận xét rằng ngày càng có nhiều người nhận thức được “quyền làm chủ” của mình. “Họ không sợ hãi và dám công khai lên tiếng phê phán chính quyền. Đó là điều đáng mừng bởi nó thể hiện là người dân đã ý thức mạnh mẽ về dân chủ, chính quyền không thể tiếp tục quản lý xã hội theo cách thức cũ được nữa,” Tiến Trung nói.

Với những kinh nghiệm từng trải qua, Tiến Trung cho rằng những ai đang còn ngần ngại “hãy cứ nói thẳng, nói thật những gì họ nghĩ”.

“Họ cần hiểu rằng chúng ta, những người dân bình thường, chính là những người làm chủ đất nước. Những gì chúng ta nói ra là để góp phần làm đất nước tươi đẹp hơn, không có gì sai trái hay vi phạm pháp luật. Họ không cần phải lo lắng.”

“Nếu như có chuyện đàn áp bắt bớ xảy ra thì những người như chúng tôi, vốn đã nói thẳng, nói thật từ lâu nay rồi, sẽ phải đi tù trước tiên chứ không thể đến lượt họ. Việc đàn áp diện rộng hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn người trên mạng xã hội sẽ không thể xảy ra như trước kia được nữa.”

“Tuy nhiên, chúng ta có quyền bày tỏ chính kiến của mình trên Facebook hay các mạng xã hội khác, nhưng chúng ta không nên nói chuyện cực đoan, thù hận hay kích động bạo lực. Khi phê phán bất kỳ vấn đề gì, chúng ta cũng nên đề ra giải pháp để giới chức và Đảng Cộng sản thấy rằng chúng ta là những người đàng hoàng, biết nói chuyện phải trái chứ không phải chỉ đả phá, chống đối,” Tiến Trung nhấn mạnh.


Huy Đức: MỘT CÁI TÊN ĐÃ THÀNH DANH: TRẦN QUANG CƠ

MỘT CÁI TÊN ĐÃ THÀNH DANH: TRẦN QUANG CƠ
Huy Đức
28-06-2015

.
Tuy từ chối chức bộ trưởng Ngoại giao, ông Trần Quang Cơ vẫn là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất lên đường lối đối ngoại của Việt Nam – không phải bằng quyền lực, chức vụ mà bằng những gì ông bạch hóa trong cuốn Hồi Ức & Suy Nghĩ được “leak” ra hồi đầu thập niên 2000s. Cuốn hồi ký có giá trị cảnh báo nguy cơ Việt Nam rơi vào thời kỳ Bắc thuộc mới.

Năm 1991, ông Nguyễn Cơ Thạch chịu nhiều áp lực phải rời khỏi chính trường. Chiếc ghế bộ trưởng ngoại giao được chuẩn bị cho ông Trần Quang Cơ nhưng ông từ chối. Khi Quốc hội đã nhóm họp, ông Trần Quang Cơ vẫn “công tác” ở Lào. Ông Đỗ Mười tưởng ông Cơ “đòi” cái ghế ủy viên Bộ chính trị nên hứa là nếu ông Cơ nhận, Trung ương sẽ bổ sung. Ông Cơ kiên quyết từ chối.

Thật tình cờ, tôi nhận được điện thoại của đại sứ Đinh Hoàng Thắng báo ông Trần Quang Cơ đồng ý trả lời phỏng vấn khi đang ở trong Thành phỏng vấn Tướng Lê Đức Anh. Phải ngồi với cả hai mới thấy được sự khác nhau giữa họ về nhân cách, tầm nhìn; sự khác nhau giữa tham vọng quyền lực và lòng yêu quê hương đất nước.


Trong cuộc gặp vào chiều cùng ngày (có đại sứ Đinh Hoàng Thắng), tôi hỏi, vì sao ông lại không nhận chức bộ trưởng Ngoại giao. Ông Cơ thẳng thắn: “Lúc ấy, trong Bộ chính trị đã phân công cho Tướng Lê Đức Anh, Chủ tịch Nước, phụ trách quốc phòng, an ninh và ngoại giao. Tướng Lê Đức Anh là kiến trúc sư chính của Hội nghị Thành Đô. Nghị quyết Đại hội VII xác định đường lối ngoại giao đa phương. Nhưng chúng tôi biết rõ ‘phương ưu tiên’ của ông ta là ai, là ngược lại với chúng tôi, dẫu có nhận chức, trước sau cũng mất chức”. Tôi nói: “Tại sao anh không nhận chức rồi đấu tranh, nếu có mất chức vì bất đồng quan điểm thì lịch sử càng làm rõ ai công, ai tội”. Ông Trần Quang Cơ cười: “Cậu nghĩ là người ta sẽ cho tôi mất chức vì bất đồng quan điểm ư”. Khi ông Cơ nói điều đó, chưa xảy ra vụ “hai bao cao su” nhưng tôi cũng phần nào hiểu được.

Rồi các đồng nghiệp của ông Trần Quang Cơ sẽ đánh giá về sự nghiệp ngoại giao của ông. Nhưng, việc ông và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch bị gạt khỏi cuộc chơi hồi thập niên 1990s đã để lại một khoảng trống trí tuệ to lớn cho Hà Nội. Trong khoảng trống đó, người ta mặc sức sử dụng con ngoáo ộp “diễn biến hóa bình” những con ngoáo ộp “made in” Trung Quốc.

Chúng ta chỉ mới biết đến những mất mát ở thác Bản Giốc, bãi Tục Lãm, điểm cao 1509… Chúng ta còn rất ít biết đến những mất mát to lớn hơn: những cơ hội để cải cách chính trị; những cơ hội để cải cách kinh tế theo hướng thị trường; những cơ hội hội nhập sâu rộng hơn với các quốc gia tiến bộ; những cơ hội để ký BTA, đi trước Trung Quốc trong làm ăn với Mỹ.

Cho dù rất chia sẻ với quyết định của ông; vẫn kính trọng tài năng và tâm huyết của ông; không dám trách ông “bỏ cuộc chơi”… nhưng vẫn tiếc, vận nước vào những lúc khó khăn, lại quá thiếu vắng những con người tử tế.

Xin tiễn biệt ông. Ông ra đi nhưng người đời sẽ còn nhắc tên ông, một cái tên đã thành danh: TRẦN QUANG CƠ.
____

Mời xem lại: Ông Trần Quang Cơ qua đời (BBC/ Ba Sàm).

Đinh Hoàng Thắng: KHÍ PHÁCH TRẦN QUANG CƠ

Khí phách Trần Quang Cơ
 
TS Đinh Hoàng Thắng
gửi cho BBCVietnamese.com từ Hà Nội
29 tháng 6 2015

Ông Trần Quang Cơ (ở giữa, complet màu tối) đã tham gia quá trình 
bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ

Chắc hẳn nhiều người còn nhớ buổi giao ban năm ấy… Với sắc mặt thất thần, ông Trần Quang Cơ gần như gào to giữa phòng họp: “Mọi người biết không, người ta sắp cắt thủ cấp Nguyễn Cơ Thạch để dâng cho nước ngoài rồi”.

Đoán “triều đình” có biến, lũ chúng tôi (những đứa lần đầu được dự giao ban), chẳng ai bảo ai, im thin thít. Tôi cố gắng tập trung vào “Bản tin A” (*) nhưng đầu óc thì nghĩ mông lung.


Không tham quyền cố vị

Trước tháng 12/1986, đại sứ Trần Quang Cơ được Bộ triệu tập về họp. Khi trở sang nhiệm sở (Bangkok), ông kể lại với một cán bộ tâm phúc về quyết định của “anh Thạch” dự kiến điều ông về nước làm thứ trưởng ngoại giao và giới thiệu ông vào Ban Chấp hành TƯ Đảng.

Ông lưỡng lự trước đề nghị của Bộ trưởng và tâm sự: “Với cơ chế của ta thì không thể làm việc được”. Sợ ông từ chối cái ghế nhiều người đang mơ ước, cán bộ tâm phúc ấy nói với ông rằng, anh nên nhận lời anh Thạch. Cố nhiên, anh không đi thì “chợ vẫn đông”, nhưng anh làm sẽ tốt hơn khối người khác.

Thế mới biết, tại sao năm 1991, rồi năm 1993 ông lại đề nghị được rút khỏi danh sách Ban Chấp hành TƯ. Đặc biệt và có thể nói vô tiền khoáng hậu (xin lỗi nếu có ngoại lệ), ông từ chối cả cái ghế Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khi Tổng Bí thư Đảng đã có quyết định.

Khí phách Trần Quang Cơ hẳn nhiên đạt tới “đỉnh” khi ông quyết định công bố “Hồi ức và Suy nghĩ” khá sớm, khoảng đầu 2001. Chính nhà ngoại giao Dương Danh Dy cũng không hiểu vì sao được ông tín nhiệm, giao tận tay một lúc cả hai bản đánh máy. Thấy chắc chắn sẽ có ích cho cái chung, ông Dy góp thêm một số ý kiến, sau đó công khai đưa lên mạng.

Hồi ký Trần Quang Cơ lập tức trở thành sách gối đầu giường đối với nhiều nhà quan sát và giới cầm bút muốn có nguồn tư liệu trung thực để phân tích tình hình Việt Nam những năm hậu chiến, thậm chí để hiểu thấu được cả những sự kiện mà hệ lụy của chúng còn kéo dài mãi tới hôm nay và mai sau.
 
Cống hiến và phản biện

Trần Quang Cơ đóng góp nhiều cho Ngành từ những ngày ông về phụ trách Vụ 2, vụ đối sách với Mỹ, đàm phán tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia, bình thường hóa với Trung Quốc. Từ những năm ấy, ông đã xác quyết các ý đồ và âm mưu của Trung Quốc đối với Việt Nam, đặc biệt là âm mưu cướp biển đảo.

Và Trần Quang Cơ đã bảo vệ đến tận cuối cuộc đời mình tất cả những kế sách mà ông cho là hiệu quả trong cuộc đấu tranh không cân sức với Trung Quốc.

Trần Quang Cơ đã bảo vệ đến tận cuối cuộc đời mình tất cả những kế sách mà ông cho là hiệu quả trong cuộc đấu tranh không cân sức với Trung Quốc.

Ông đã lên tiếng kêu gọi phải khẩn trương trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và sớm gia nhập ASEAN. Triết lý sống còn về an ninh của đất nước được ông khái quát khá sớm: “Trong cái thế anh nằm ngay cạnh nước lớn, nước khổng lồ, mà không có bạn thì anh sẽ bị ép”. Đối với ông, chiến lược an ninh và đối ngoại phải hết sức linh hoạt, phải phù hợp với xu hướng chung của cục diện chính trị-kinh tế thế giới, nhất thiết phải tương thích với những đặc điểm lớn của thời đại đại.

Nhưng rồi ông cũng cay đắng đưa ra nhận xét, ngày ấy, ta đã làm những việc cần thiết đối với Mỹ và ASEAN “chậm trễ tới cả mười năm”.

Sau này, ngay cả khi đã “rửa tay gác kiếm” ông vẫn sẵn lòng cho chúng tôi biết thêm một số chi tiết giá trị trong cuộc vật lộn ngoại giao đằng sau các cuộc chiến, đặc biệt là những bão táp thời hậu chiến mà ông là người trong cuộc, có lúc từng là tác nhân và nhờ sự tỉnh táo mách bảo, biết rút ra sớm khỏi cuộc chơi trước khi có thể trở thành nạn nhân.

Phản biện thông minh và luôn có ý thức tích lũy để cống hiến. Từng là cán bộ địch vận, thuyết phục binh lính Pháp, cùng làm việc với nhiều “cây đa, cây đề” trong làng ngoại giao và văn hóa, một thời dưới trướng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ ngày chuyển về Bộ Ngoại giao, ông càng có cơ hội phát huy tầm nhìn xa trông rộng đối với các vấn đề mỗi khi góp phần vào việc đề xuất chính sách.

Có lẽ các phẩm chất tử tế nói trên đã làm Trần Quang Cơ thành danh như nhận xét của nhà báo tự do Huy Đức. Tuy nhiên, chiến cuộc ngoại giao mà suốt đời ông phụng sự một cách tận tụy thì vẫn còn đó… và đang hết sức nan giải.

Nhưng vận mệnh đất nước không thể cứ “bèo dạt mây trôi” như thế này mãi. Ông ra đi nhưng dường như vẫn muốn nán lại để hỏi chúng ta: “Những người đang sống phải làm gì?”

Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của riêng tác giả, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, nguyên Trưởng Nhóm Tư vấn Lãnh đạo Bộ Ngoại giao.

* Bản tin A: bản tin lưu truyền nội bộ hàng ngày của Bộ Ngoại giao

Trần Thanh Giao: QUA 8 KỲ ĐẠI HỘI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

QUA TÁM KÌ ĐẠI HỘI
 
Trần Thanh Giao 
Thứ hai ngày 29 tháng 6 năm 2015
Lời dẫn: Sắp đến Đại hội IX, nhìn lại tám đại hội qua để thấy rằng yêu cầu gặp gỡ bạn bè đồng nghiệp là có thật và chính đáng nhưng yêu cầu tiến hành một đại hội nghiêm chỉnh cũng là kỳ vọng của hội viên và của toàn xã hội...


Năm 2015, Hội Nhà văn Việt Nam sẽ họp Đại hội lần IX. Tôi may mắn được dự tám kỳ đại hội.

Đại hội I được tổ chức tại Câu lạc bộ Đoàn kết ở Hà Nội từ ngày 1-4 đến ngày 5-4 năm 1957. Lúc đó, tôi chưa là hội viên, mới có vài bài thơ văn đăng báo, nhưng ham mê văn chương, và rất ngưỡng mộ các nhà văn, ngưỡng mộ đại hội cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Vì lúc đó cơ quan tôi công tác là Nhà in báo Nhân Dân ở phố Tràng Tiền, sát bên cạnh nơi diễn ra đại hội nên tôi đi qua lại nhìn vào hội trường, hồi hộp chờ nhìn mặt các nhà văn mà mình ngưỡng mộ, lòng thầm mong ước... Tôi theo dõi báo và sớm biết kết quả đại hội (tôi sửa mo-rát báo Nhân Dân ban đêm, sáng ra bạn đọc mới đọc báo). Chủ tịch hội là nhà văn Nguyễn Công Hoan, tôi đã từng đọc và rất mê một số tác phẩm của ông khi còn đi học. Trong ban chấp hành còn có nhà văn Đoàn Giỏi tôi từng gặp trong bưng biền Khu IX ở một hội nghị văn nghệ diễn ra tại một xã gần đầm Bà Tường ở Cà Mau, lúc đó ông là trưởng Ban văn của Chi hội Văn nghệ Nam bộ...

Đại hội II diễn ra từ ngày 10-1 đến 12-1-1963, cũng tại Câu lạc bộ Đoàn kết. Tôi rất vinh dự được có mặt ở đại hội này với tư cách là đại biểu... mời dự thính, vì lúc đó tôi đã có vài truyện ngắn được đăng báo, đã là đại biểu dự Hội nghị Những người viết văn trẻ lần I ở ấp Thái Hà. Đại hội bầu nhà văn Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư ký. Từ đó, nhiều lần tôi được dự một số hoạt động của Hội Nhà văn Việt Nam, gần gũi và rất kính phục nhà văn Nguyễn Đình Thi, thỉnh thoảng thầm nghĩ: mình là "con trai" mà còn "mê" anh Thi, huống chi... Tôi nhớ từ đại hội đó cho tới Đại hội VI, Hội Nhà văn Việt Nam chỉ có chức danh cao nhất là Tổng thư ký.

Đại hội III từ ngày 26-9 đến ngày 28-9-1983 tại Hội trường Ba Đình Hà Nội, sau một nhiệm kỳ dài 20 năm, trải qua cả thời kỳ chống Mỹ ở hai miền Nam Bắc và sau ngày nước nhà thống nhất. Đây là đại hội đại biểu, có 150 người, trong tổng số 370 hội viên. Lúc này, tôi đã vào Hội, đang là Thư ký thường trực của Hội Nhà văn TP.HCM nên được "cơ cấu" vào ban thư ký đại hội do nhà thơ Hữu Thỉnh làm trưởng ban. Tôi nhớ ban thư ký lúc đó chưa được ngồi trên "sân khấu" mà ngồi ở hàng ghế đầu bên phải từ trên nhìn xuống. Đại hội diễn ra suôn sẻ, vui vầy trong tinh thần Nam Bắc sum họp một nhà. Nhà văn Nguyễn Đình Thi được bầu lại làm Tổng thư ký Hội và đọc bài diễn văn bế mạc làm tôi và nhiều đại biểu rất xúc động. Buổi liên hoan bế mạc làm ở khách sạn Thắng Lợi bên bờ hồ Tây thơ mộng...

Đại hội IV cũng diễn ra tại Hội trường Ba Đình từ ngày 28-10 đến 1-11-1989. Đây là đại hội toàn thể đầu tiên, với 396 hội viên, dài 5 ngày (có một ngày chủ nhật). Có lẽ đây là đại hội "sóng gió" nhất trong các đại hội vừa qua. Chủ tịch đoàn chủ tịch là nhà văn Trần Bạch Đằng, trưởng đoàn thư ký là Trần Thanh Giao, đều là dân Sài Gòn, không vướng những chuyện "tế nhị"... Có việc đọc thư của tướng Trần Độ (không có trong chương trình đại hội), có việc chất vấn và thảo luận sôi nổi về báo cáo chính trị do Tổng thư ký khóa trước đọc, có việc "vận động hành lang", v.v... đến nỗi Ban Bí thư phải triệu tập cuộc họp đảng viên trong ngày chủ nhật để "ổn định tư tưởng", nhưng sau đó thì... "sóng gió" vẫn tiếp diễn... Tôi nhớ buổi họp cuối của đoàn chủ tịch chuẩn bị nghị quyết đại hội (trưởng đoàn thư ký cũng dự họp để ghi chép và chuẩn bị lịch làm việc hôm sau bế mạc). Đêm khá khuya, cuộc họp căng thẳng, vài ủy viên đoàn chủ tịch nhất định không đồng ý ghi câu "đại hội thông qua báo cáo chính trị" trong nghị quyết, Tổng thư ký Nguyễn Đình Thi (cũng trong đoàn chủ tịch, người viết và đọc báo cáo) thì nhất định không đồng ý ghi câu "đại hội chưa thông qua báo cáo"; chủ tịch Trần Bạch Đằng cố gắng hòa giải nhưng hai bên không ai chịu nhân nhượng. Tôi xin phép nói: "Tôi đề nghị ghi vào nghị quyết thế này có được không: Đại hội đã nghe báo cáo chính trị, góp nhiều ý kiến sôi nổi, và giao cho Ban chấp hành khóa tới chỉnh sửa báo cáo theo hướng đã được đại hội đóng góp và thông qua..." Nhà văn Bàn Tài Đoàn nói "vậy được rồi", vài người nữa tán thành; và chủ tịch kết luận ghi câu đó vào nghị quyết... Đại hội bầu nhà văn Vũ Tú Nam làm Tổng thư ký.

Đại hội V cũng là đại hội toàn thể diễn ra tại Hội trường Ba Đình từ ngày 12-3 đến 14-3-1995, có 496 đại biểu trong tổng số 551 hội viên. Đại hội chỉ bầu được 5 ủy viên ban chấp hành (năm 1996 bổ sung thêm 2 người nữa là 7), do nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm làm Tổng thư ký và nhà thơ Hữu Thỉnh làm Phó tổng thư ký thường trực. Đại hội này có một sự cố lớn: phiếu bầu ban chấp hành thiếu mất tên một người được đại hội đưa vào danh sách đề cử, nên phải bỏ phiếu lại. Đây là thiếu sót của đoàn thư ký, cụ thể là của người phụ trách lập danh sách bầu cử đưa cho ban tổ chức đại hội in phiếu bầu, nhưng trưởng đoàn thư ký, vì trách nhiệm, suốt đêm đó dằn vặt, không ngủ được, hôm sau mệt quá mất cả tiếng. Tôi cũng trong đoàn thư ký phụ trách phần tham luận, may mắn không dính tới chuyện phiếu bầu sót tên nên trưởng đoàn nhờ tôi thay anh đọc nghị quyết trước đại hội...

Đại hội VI
là đại hội đại biểu có 423 nhà văn trên tổng số 597, cũng họp tại Hội trường Ba Đình từ ngày 17-4 đến ngày 18-4-2000, bầu ra 9 ủy viên ban chấp hành, do nhà thơ Hữu Thỉnh làm Tổng thư ký. Đại hội diễn ra suôn sẻ. Tôi lại được cử làm trưởng đoàn thư ký Đại hội VI, vì "anh có kinh nghiệm làm thư ký". Tôi nhận nhiệm vụ nhưng xin "tôi đã làm thư ký bốn đại hội liền, từ đại hội sau xin được nghỉ", vì làm thư ký đại hội là trách nhiệm và vinh dự nhưng cũng... "cực" lắm... Trưởng đoàn thư ký phải bao quát công việc của đoàn, của đại hội, phải phân công cụ thể cho từng thành viên: người chuyên ghi biên bản cập nhật mọi diễn tiến trong đại hội, người chuyên tiếp nhận các đăng ký phát biểu và ghi chép lại đầy đủ ý kiến phát biểu, người lo đọc và xếp loại các tham luận, người phối hợp với ban tổ chức nắm số lượng đại biếu có mặt, các khách mời, hoa mừng, điện mừng... và lo theo dõi đề cử ứng cử, lên danh sách phiếu bầu... Trưởng đoàn còn phải giúp chủ tịch đoàn xếp lịch làm việc các buổi, trình các đăng ký phát biểu, tham luận, thảo và đọc nghị quyết đại hội; nghị quyết phải viết súc tích, đầy đủ nội dung đại hội, vừa là nghị quyết lại phải có văn (đại hội nhà văn mà)... Nhiều hôm, đại biểu đã lên xe về nhà khách ăn tối và đi ngủ rồi, hết xe đưa đón, mình còn lóc cóc cuốc bộ về khuya, co ro trong gió rét...

Đại hội VII họp từ ngày 23-4 đến 25-4-2005, cũng tại Hội trường Ba Đình. Đây là đại hội đại biểu, có 557 trong tổng số 848 hội viên, bầu cử hai vòng, vòng một được 4 người (quá bán), vòng hai thêm 2 người nữa, tổng số được 6 ủy viên ban chấp hành, do nhà thơ Hữu Thỉnh làm Chủ tịch. Kể từ đại hội này, hội lập lại chức Chủ tịch hội.

Đại hội VIII là đại hội toàn thể từ ngày 4-8 đến 6-8-2010 tại Hội trường Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh với danh sách mời là 862 người, bầu được 15 ủy viên ban chấp hành do nhà thơ Hữu Thỉnh làm Chủ tịch. Hội viên các tỉnh về Hà Nội đông quá nên phải chia ra ở bốn nơi: nhà khách Hùng Vương, nhà khách Chu Văn An, khách sạn Kim Liên, khách sạn Bàn Cờ. Chủ tịch đoàn cũng rất đông, ngồi kín mấy dãy ghế trên sân khấu. Đồng nghiệp cả nước gặp nhau tay bắt mặt mừng, hàn huyên mọi nỗi, nhưng không khí đại hội thì loãng vì có lúc ngồi ngoài hội trường thoải mái, vui vẻ hơn trong hội trường... Trong hội trường thì ít người muốn nghe tham luận, hầu hết người lên đọc tham luận đều được vỗ tay mời xuống, có người thấy vậy từ chối đọc tham luận... Nhiều người làm thơ ca hò vè vịnh đại hội như bài "Thuở trời đất nổi cơn gió bụi / Khách làng văn nhiều nỗi truân chuyên..." hay nhẩm hát cùng nhau "... chưa có bao giờ mệt như hôm nay/ mấy chai mè đen còn chưa hồi sức/ mấy trăm người ta ngồi lâu càng bức..."
Sắp đến Đại hội IX, nhìn lại tám đại hội qua để thấy rằng yêu cầu gặp gỡ bạn bè đồng nghiệp là có thật và chính đáng nhưng yêu cầu tiến hành một đại hội nghiêm chỉnh cũng là kỳ vọng của hội viên và của toàn xã hội...

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

Tin NÓNG: BÀ CON DÂN OAN CÁC TỈNH BIỂU TÌNH TẠI HÀ NỘI


Sáng nay, ngày 30-6-2015, bà con dân oan ba miền hiện đang kêu kiện tại Hà Nội đã đồng lòng đồng loạt biểu tình và tuần hành trên các tuyến phố Hà Nội, bắt đầu là Vườn hoa Quốc Tử Giám. 

Anh Trịnh Bá Tư, con trai thứ của ông bà Trịnh Bá Khiêm - Cấn Thị Thêu ở Dương Nội, mặc dù mắt vẫn còn rỉ máu kể từ hôm đi đón bố ở Trại giam số 6 Bộ Công an bị an ninh và côn đồ đánh đập dã man, vẫn không khuất phục trước bạo quyền tiếp tục cùng dân oan 3 miền đấu tranh tố cáo tội ác của công an, chính quyền.

Ông Trịnh Bá Khiêm, sau ít ngày rời nhà tù với án oan sai tày đình cũng có mặt trong đoàn biểu tình. Năm 2014 ông Khiêm & vợ là bà Thêu cùng nhân dân Dương Nội đứng lên giữ mảnh đất của chính Cha Ông để lại. Nhà cầm quyền đã bắt và buộc tội vợ chồng Ông Bà cùng một số người dân khác là: chống người thi hành công vụ...và cầm tù họ một cách trắng trợn!









Hai bố con ông Trịnh Bá Khiêm. Ông Khiêm vừa mãn hạn tù mấy ngày nay. Trước khi ra tù, ông nói với viên cai ngục: Tôi sẽ còn quay lại đây, vì tôi chưa đòi được đất của tổ tiên để lại.










 Các nhân viên an ninh đi theo để quay phim tư liệu về cuộc phản kháng của nông dân











 Tin và ảnh: Trịnh Bá Phương.