Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

QUAN HỆ TQ VỚI CÁC NƯỚC - NHÌN TỪ DANH SÁCH KHÁCH MỜI

Quan hệ của Trung Quốc với các nước 
qua danh sách khách mời lễ duyệt binh

VNExpress

Thứ tư, 26/8/2015 | 19:40 GMT+7

.
Bản danh sách khách mời dự lễ duyệt binh kỷ niệm kết thúc Thế chiến II phần nào thể hiện mối quan hệ của Trung Quốc với các nước trên thế giới.
Trung Quốc làm sạch không khí trước duyệt binh lớn
Trung Quốc công bố danh sách khách mời dự lễ duyệt binh ngày 3/9 tới đây. 
Ảnh:Reuters

Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Minh công bố danh sách khách mời tham dự lễ duyệt binh kỷ niệm 70 năm kết thúc Thế Chiến II ở châu Á trong một buổi họp báo vào ngày 25/8. Theo Wall Street Journal,đây là bản danh sách được giới quan sát chờ đợi.

Danh sách

Sẽ có 30 nguyên thủ quốc gia tới dự lễ duyệt binh vào ngày 3/9 tới đây, trong đó có Tổng thống Nga Vladimir Putin, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye, lãnh đạo các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (ngoài Nga còn có Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan), tổng thống Pakistan, Myanmar, Nam Phi, Ai Cập, chủ tịch nước Việt Nam, tổng thư ký Liên Hợp Quốc...


Ngoài ra, sẽ có thêm 19 đại diện chính phủ các nước tham dự lễ duyệt binh, nâng tổng số nước có đại diện chính thức tham dự sự kiện này lên 49. Trong lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại do Nga tổ chức hồi tháng 5, có đại diện của 40 quốc gia tới tham dự.

Nhưng danh sách này thiếu vắng các nhà lãnh đạo phương Tây và Mỹ cũng như đại diện của một số quốc gia trong khu vực. Trước đó, các nhà ngoại giao Trung Quốc từng nói rằng đại diện của những nước từng tham chiến trong Thế Chiến II sẽ được mời tới dự lễ duyệt binh. Nguyên thủ quốc gia thuộc Liên minh châu Âu duy nhất tham dự sự kiện này là Tổng thống Czech Milos Zeman.

Theo ông Trương, các quốc gia như Pháp, Australia, Italy hay Anh sẽ cử các bộ trưởng tới tham dự sự kiện, trong khi Mỹ, Đức và Canada cử các đại sứ tham gia. Tờ Global Times cho hay Brazil và Ấn Độ dự kiến sẽ cử các "đặc sứ" tới dự lễ duyệt binh này.


Đồ họa thể hiện đại diện các quốc gia tới dự lễ duyệt binh của Trung Quốc. 
Đồ họa: Diplomat

Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un sẽ vắng mặt trong lễ duyệt binh và cử người đại diện là ông Choe Ryong-hae, Bí thư Đảng Lao động Triều Tiên. Một loạt các quốc gia ASEAN như Brunei, Indonesia, Philippines và Singapore không cử đại diện cấp cao tham dự lễ duyệt binh. Trước đó, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tuyên bố sẽ không tới Bắc Kinh dự sự kiện này.

Giải thích cho sự vắng mặt của nhiều nguyên thủ quốc tế, ông Trương Minh cho biết, Trung Quốc "đã mời lãnh đạo các nước có liên quan cùng tham dự lễ kỷ niệm trọng đại này với người dân Trung Quốc. Nhưng đó là quyết định của họ. Về phần mình, chúng tôi tôn trọng và chào đón tất cả quan khách".

Ông Trương cũng giải thích Thủ tướng Nhật Abe không tới Trung Quốc do "bận chương trình nghị sự tại quốc hội". Quan chức Trung Quốc này cũng khẳng định cuộc duyệt binh sẽ không "nhằm vào Nhật Bản và không hề liên quan trực tiếp tới quan hệ Trung - Nhật hiện nay".

Tuy nhiên, cựu Thủ tướng Nhật Bản Tomiichi Murayama sẽ tới dự sự kiện, ông Trương xác nhận. Ông Murayama chính là người đã đưa ra lời xin lỗi vào năm 1995 về hành vi "xâm lược" và "cai trị thực dân" của Nhật Bản trong Thế Chiến II. Một số cựu lãnh đạo phương Tây như cựu Thủ tướng Anh Tony Blair và cựu Thủ tướng Đức Gerhard Schroeder sẽ tới Bắc Kinh.

Mối quan hệ với thế giới


Binh sĩ Trung Quốc luyện tập cho lễ duyệt binh. Ảnh: SCMP

Theo bình luận của Diplomat, danh sách khách mời được Trung Quốc công bố không hề gây ngạc nhiên cho các nhà quan sát. Nguyên thủ các nước không có nhiều điểm chung với Trung Quốc sẽ không tham gia lễ duyệt binh.

Quan hệ giữa Nga và Trung Quốc đã trở nên nồng ấm hơn bao giờ hết trong thời gian gần đây, đặc biệt là từ khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea hồi năm ngoái. Trung Quốc là quốc gia đã bỏ phiếu trắng đối với nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc lên án cuộc trưng cầu dân ý ở Crimea để dọn đường cho việc sáp nhập bán đảo này vào lãnh thổ của Nga.

Tháng 5/2014, Nga và Trung Quốc ký một hợp đồng khí đốt khổng lồ trị giá tới 400 tỷ USD, trong bối cảnh kinh tế Nga đang lâm vào khó khăn do các lệnh cấm vận và trừng phạt của phương Tây. Hải quân Nga và Trung Quốc cũng đã tổ chức một cuộc tập trận quy mô lớn trên biển Hoa Đông để thắt chặt quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Trong lễ duyệt binh kỷ niệm chiến thắng phát xít Đức hồi tháng 5 vừa qua ở Moscow, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình là người ngồi tại vị trí trang trọng nhất, ngay cạnh Tổng thống Nga Vladimir Putin trong suốt buổi lễ.

Ngoài thắt chặt quan hệ với Nga, Trung Quốc cũng không ngừng mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình tới châu Phi, nơi nước này có số vốn đầu tư lớn nhất. Nguồn vốn đầu tư tại khu vực Đông Phi đã lên tới hàng chục tỷ USD, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng cơ sở, công nghiệp khai khoáng, giao thông vận tải, nông nghiệp, xây dựng, tài chính ngân hàng, công nghệ thông tin. Các nước châu Phi và khu vực Trung Á cũng là những thị trường xuất khẩu vũ khí đầy tiềm năng của Trung Quốc, khi những quốc gia này ưa chuộng các loại vũ khí giá rẻ.

Còn ở khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc cũng tăng cường quan hệ với Campuchia và chính quyền quân sự ở Thái Lan bằng các khoản viện trợ tài chính và các hợp đồng có giá trị lớn. Gần đây, chính phủ Thái Lan đã bày tỏ ý định mua ba tàu ngầm do Trung Quốc sản xuất để hiện đại hóa cho lực lượng hải quân của mình. Trong lễ duyệt binh lần này của Trung Quốc, Quốc vương Campuchia Norodom Sihamoni sẽ tham dự, còn Thái Lan sẽ cử một quan chức cấp cao là Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Prawit Wongsuwan.

Việc Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye nhận lời mời tới tham dự lễ duyệt binh cũng là một động thái đáng chú ý. Có nhiều thông tin cho hay trước đó Mỹ đã gây sức ép để bà Park từ chối lời mời của Bắc Kinh.

Nhiều chuyên gia phân tích cho rằng động thái này của bà Park không phải là một cách để chứng tỏ Hàn Quốc là "bạn bè thực sự" của Bắc Kinh như các bình luận viên Trung Quốc nhận định. Bà Park quyết định tham dự lễ duyệt binh vào thời điểm tình hình Hàn Quốc-Triều Tiên đang ở giai đoạn nguy hiểm, và bà hy vọng quyết định sẽ thúc đẩy Bắc Kinh có động thái can thiệp buộc Triều Tiên phải hạ nhiệt căng thẳng. Quyết định của bà Park được đưa ra vào hôm thứ năm tuần trước, ngay sau khi Hàn-Triều đấu pháo qua biên giới.

Dù tạo được ảnh hưởng tại nhiều khu vực trên thế giới, Trung Quốc lại không lấy được lòng tin của nhiều quốc gia phương Tây và Mỹ trong chính sách đối ngoại của mình thời gian qua. Những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông hay trên biển Hoa Đông đã khiến nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới lo ngại, đặc biệt là với Mỹ, nước đang xoay trục chiến lược sang châu Á-Thái Bình Dương.

Theo các chuyên gia phân tích, một trong những lý do nữa khiến nhiều lãnh đạo phương Tây không muốn tham dự lễ duyệt binh của Trung Quốc là do họ lo ngại rằng sự kiện này có thể mang nặng âm hưởng chống Nhật - quốc gia đồng minh thân cận với Mỹ và là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới. Dù Trung Quốc đã bác bỏ điều này, nỗi lo ngại trên không phải là không có cơ sở, nếu xét theo quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong thời gian vừa qua, đặc biệt là trong vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên Hoa Đông.

Chuyên gia phân tích chính trị Zhang Lifan ở Bắc Kinh cho rằng cuộc duyệt binh sắp tới của Trung Quốc sẽ "làm tăng tinh thần dân tộc bằng cách cho người dân thấy rằng Trung Quốc đã trở thành một cường quốc thực thụ", và do đó sẽ "càng củng cố thái độ tiêu cực đối với Mỹ và Nhật trong dư luận nước này".

Trước đây Trung Quốc thường tránh những cuộc duyệt binh thường niên thể hiện sức mạnh quân sự và chỉ tổ chức những sự kiện hoành tráng như vậy 10 năm một lần để kỷ niệm ngày quốc khánh, nhằm tránh sự chú ý quá mức của dư luận thế giới.

Tuy nhiên cuộc duyệt binh năm nay được dự kiến là sẽ có quy mô rất lớn với sự tham gia của 12.000 binh sĩ, 500 khí tài quân sự diễu qua quảng trường Thiên An Môn và khoảng 200 máy bay trên bầu trời. Ngoài ra, 17 nước khác sẽ gửi binh sĩ tới tham gia duyệt binh, trong đó có Nga, Cuba, Serbia và Mexico cùng một số quốc gia láng giềng của Trung Quốc.

Việc đưa giàn xe tăng diễu qua Thiên An Môn và chiến đấu cơ rợp trời "chỉ có thể gửi một thông điệp đầy đáng ngại tới các nước láng giềng của Trung Quốc", Reuters dẫn lời một nhà ngoại giao phương Tây giấu tên nói.

Trí Dũng

PHẢI "LÀM VIỆC" VỚI CÔNG AN VÌ PHẢN ĐỐI BỘ GIÁO DỤC VN

Phải ‘làm việc’ với công an 
vì phản đối Bộ Giáo dục Việt Nam?

VOA
26-08-2015

.
Nguyễn Thành Nhân cầm tấm biển: “Học sinh, sinh viên, không phải là chuột bạch” 
trước cổng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Một bạn trẻ ở Hà Nội cho biết hôm nay, 26/8, đã bị yêu cầu lên gặp công an sau khi đăng ảnh cầm tấm biển có nội dung: “Học sinh, sinh viên, không phải là chuột bạch”, trước cổng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.


Bức ảnh kèm theo câu hỏi “năm nay, không biết sẽ có bao nhiêu bi kịch liên quan đến thi cử” mà Nguyễn Thành Nhân đưa lên Facebook sau đó đã được nhiều người ‘share’ lại trên mạng xã hội này.

Đoạn “status” (dòng trạng thái) của Nhân còn có đoạn: “Có bao nhiêu bậc cha mẹ phải cơm ăn cơm dở đưa con đi thi đại học, sau khi đã làm lụng, đã vắt đến giọt mồ hôi cuối cùng để nuôi con đèn sách? Có bao nhiêu gia đình lục đục, đổ vỡ vì đứa con không thi đậu đại học? Có bao nhiêu cô cậu thí sinh cay đắng, tự ti, suy sụp vì thất bại? Liệu sẽ có trường hợp nào tự tử?”

Nhân viết tiếp: “Này Bộ Giáo dục và Chính phủ Việt Nam, học sinh – sinh viên chúng tôi không thể cứ mãi là chuột bạch cho các cuộc thử nghiệm vĩ đại của các vị đâu”.

Trong cuộc “làm việc” với công an phường Yên Hòa ở Hà Nội, Nhân cho biết đã “bị hỏi về bức ảnh mà em đã chụp và những nội dung đã đăng tải trên Facebook”.

Cậu cho biết tiếp: “Em nhận là em làm, và cái nội dung đó, hình ảnh đó không có liên quan tới luật pháp vì em không sai. Bên họ bảo là, vì những vấn đề em làm, thì rất là nhiều bên khác đã lợi dụng những hình ảnh và nội dung của em để có những mục đích xấu. Đó là mục đích chính mà hôm nay họ làm việc với em”.

Vụ việc xảy ra trong bối cảnh ngành giáo dục ở Việt Nam đang chịu sức ép lớn từ dư luận xã hội, nhất là sau kỳ xét tuyển đại học bị coi là “lộn xộn” và “gây phiền hà” cho người dân.

Trước vụ cầm biển phản đối của Nhân, mới đây, tuyên bố “giáo dục Việt Nam bây giờ con thấy là quá thối nát rồi” của một cậu bé học lớp Tám đã được nhiều người tán thưởng.

Nhiều nguồn tin cho VOA Việt Ngữ biết rằng cậu bé 14 này đã phải “chịu áp lực lớn” sau lời phát biểu được coi là “gãi đúng chỗ ngứa” của dư luận.

Dù gặp phiền hà với chính quyền, Nguyễn Thành Nhân cho VOA Việt Ngữ biết cậu hy vọng các bạn thí sinh, các bạn trẻ chuẩn bị bước chân vào đời hiểu được rằng họ “có quyền phản biện chính sách, có quyền tham gia vào tiến trình ra quyết định trong các vấn đề lớn của đất nước”.

Nhân nói thêm: “Năm nay Bộ Giáo dục có một cải cách mới, nhưng mà có nhiều vấn đề bất cập liên quan tới các em học sinh, sinh viên cũng như liên quan tới các bậc phụ huynh nữa. Cho nên em muốn là qua sự việc này em mong muốn các bạn học sinh, sinh viên khi thấy các chính sách của Bộ Giáo dục đưa ra mà sai hoặc bất cập thì các bạn ấy cần phải lên tiếng. Đó là cái mong muốn của em”.

VOA Việt Ngữ không thể liên lạc với lãnh đạo công an phường Yên Hòa để phỏng vấn.

Sau “sự cố” gặp phải với công an, nhiều cư dân mạng đã bày tỏ sự ủng hộ đối với Nguyễn Thành Nhân bằng cách chụp những bức ảnh đang giơ cao biểu ngữ “học sinh, sinh viên không phải là chuột bạch”.

‘Sẵn sàng trả giá’

Nhân cho biết sự ủng hộ đó cho thấy “hành động và việc làm của em như thế là đúng” và “em thấy vui”.

Ngoài phản đối Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, vừa qua, Nhân cũng tham gia vào chiến dịch ngăn chặt cây xanh ở Hà Nội.

Những ngày qua, nhiều người sử dụng mạng xã hội đã lên tiếng yêu cầu Bộ trưởng Giáo dục và Đào Tạo Việt Nam Phạm Vũ Luận từ chức, sau khi ông nhận trách nhiệm về các bất cập trong đợt xét tuyển đại học đầu tiên mà ông gọi là “trận đánh lớn” và “sẵn sàng trả giá”.

Hơn một chục nghìn người đã “like” (thích) trang Facebook có tên gọi “Chúng tôi yêu cầu cách chức ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Phạm Vũ Luận”.

Một “status” trên trang này viết: “Ông Luận là ‘tư lệnh ngành’ Giáo dục, ông coi cải cách giáo dục lần này là 1 trận đánh lớn và ông thừa nhận đã có sai sót và xin rút kinh nghiệm. Như thế là chưa đủ. Dây kinh nghiệm không đủ dài cho ông rút. Yêu cầu ông từ chức, nếu không ông sẽ phải bị cách chức”.

Trước đó, báo chí trong nước dẫn lời người hiện đứng đầu ngành giáo dục Việt Nam tuyên bố nhận trách nhiệm về những bất cập trong đợt xét tuyển đại học đầu tiên gây phiền hà, tốn kém cho người dân.

Truyền thông trong nước những ngày qua đã tốn nhiều giấy mực để viết về đợt “cải tổ giáo dục” này.

Có thể đọc được những hàng tít như: “Kiệt sức với xét tuyển đại học”, “Vỡ trận xét tuyển đại học”, “Thuê xe cấp cứu đi rút hồ sơ đại học” hay “Phụ huynh bật khóc ngày cuối xét tuyển đại học”.

Trong khi đó, trả lời VOA Việt Ngữ, ông Trần Xuân Nhĩ, cựu Thứ trưởng Giáo dục & Đào tạo Việt Nam, nói rằng việc tổ chức xét tuyển như vừa qua “đỡ tốn kém hơn trước”.

“Tuy nhiên việc tuyển sinh đợt một khá lộn xộn, và Bộ trưởng Giáo dục đã nhận trách nhiệm về mình rồi đấy,” ông Nhĩ nói.

Về lời kêu gọi ông Luận từ chức của cư dân mạng, cựu quan chức giáo dục nói: “Bây giờ mới một việc như vậy mà đã yêu cầu từ chức thì chưa nên, chưa hay lắm. Nên để xem Bộ trưởng có sự sửa đổi như thế nào đã”.

Trước đây, nhiều cư dân mạng ở Việt Nam cũng đã từng mở chiến dịch kêu gọi Bộ trưởng Y tế từ chức sau khi nhiều trẻ em tử vong vì tiêm vaccine.
.

TỔ CHỨC DÀN NHẠC TRONG NGHI LỄ CẦU SIÊU

Lễ cầu siêu tại Chùa Ngọc Trục, Hà Đông. Ảnh: Ng. Xuân Diện

TỔ CHỨC DÀN NHẠC TRONG NGHI LỄ CẦU SIÊU

Nguyễn Đình Lâm (Viện Âm nhạc)

Lễ cầu siêu là nghi lễ Phật giáo, gắn liền với không gian thiêng của ngôi chùa. Âm nhạc và các khoa cúng - bước lễ có quan hệ hữu cơ với nhau, quy định nhau trong suốt quá trình hành lễ. Bởi, một mặt, âm nhạc trong nghi lễ này không chỉ được nhìn nhận trong tổng thể của môi trường và không gian diễn xướng, mà còn cần được soi xét, bóc tách từng bộ phận trong đó để đi sâu tìm hiểu, làm rõ vị trí và chức năng của các thành viên, trong đó có vai trò của từng nhóm nhạc cụ gắn với các thành tố cụ thể. Nói cách khác, mỗi bước lễ, mỗi một tổ chức âm nhạc, trong đó có những cặp nhạc cụ được sử dụng, trình tấu theo những nguyên tắc và sự gắn kết nhất định theo từng nghi lễ. Mặt khác, việc nghiên cứu tổ chức dàn nhạc còn làm rõ sự khác nhau trong biên chế ở mỗi ngôi chùa, mỗi đội cúng1 và trong mỗi địa điểm và khu vực khác nhau; trong đó, bên cạnh những nhạc cụ được biên chế cố định, bắt buộc còn có những nhạc cụ được bổ sung theo phong cách riêng của mỗi đội cúng và địa điểm cụ thể. Quan trọng hơn, nghiên cưu, tìm hiểu vấn đề này còn góp phần làm sáng tỏ cơ cấu tổ chức nhạc cụ và vai trò của chúng đối với nghi lễ cũng như diện mạo chung của âm nhạc nói chung, dàn nhạc nói riêng trong quan hệ với toàn bộ nghi lễ.

Những vấn đề chung nhất về quan hệ giữa âm nhạc với các bước lễ đã được chúng tôi tổng hợp bước đầu và trình bầy một cách khái quát trong phần nghiên cứu trước đây. Bài viết này sẽ tiếp tục tìm hiểu chi tiết các khía cạnh khác trong nghi lễ, trong đó tập trung nghiên cứu tổ chức biên chế dàn nhạc và quan hệ của nó với các bước lễ nói chung, từng hình thức âm nhạc nói riêng. 

1. Biên chế

Trong cuốn Lịch sử âm nhạc Việt Nam, phần bàn về âm nhạc Phật giáo, tác giả Lê Mạnh Thát có đề cập tới một tổ chức 9 nhạc cụ, gồm Phách, Hồ cầm, Sáo, Kìm, Hoàng Sênh, Tỳ bà, ống Tiêu, Nguyệt và trống Cơm2. Những nhạc cụ này được biết tới qua tư liệu khảo cổ là hình ảnh trạm khắc trên bệ đá chùa Vạn Phúc (Từ Sơn - Bắc Ninh ngày nay), được tác giả trình bày và tổng hợp theo mô tả ghi chép trong thư tịch cổ, nhưng còn chưa rõ được mục đích sử dụng và vai trò của nó. Theo cuốn Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam của Giáo sư Trần Văn Khê, vấn đề nhạc khí sử dụng trong Phật giáo cũng đã được ông giới thiệu. Trong đó, ông đã chia các nhạc cụ ra làm hai loại: Nhạc khí tôn giáo gồm, Mõ, Tích trượng, Chuông (có bốn loại là Gia trì, Báo chúng, Hồng chung, Bát nhã), Tang (còn gọi là Đẩu, hay Thanh la), Trống (có hai loại trống Đạo và trống Bát nhã) và nhạc khí ngoài tôn giáo gồm kèn Bầu, kờn nhị, Trống, Mõ, Sáo, trống Bản3. Đây là phần giới thiệu có chú thích cơ bản về nhạc cụ trong lễ Phật giáo ở khu vực miền Trung và miền Nam. Tuy nhiên, theo chúng tôi, cũng như các hình thức âm nhạc tín ngưỡng dân gian khác ở Việt Nam, âm nhạc Phật giáo nói chung cũng thể hiện tính chất đặc trưng qua các vùng miền và tông phái khác nhau. Cho tới thời điểm này, phần âm nhạc Phật giáo nói chung, âm nhạc trong nghi lễ cầu siêu nói riêng, trong đó việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức và biên chế dàn nhạc trong nghi lễ này tại khu vực đồng bằng châu thổ Sông Hồng, trong đó có khu vực Hà Nội chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu. Do đó, phần nghiên cứu này, chúng tôi sẽ dựa trên cơ sở tư liệu điền dã trực tiếp tại các chùa và các đàn cầu siêu ở khu vực Hà Nội để tiến hành tìm hiểu nghiên cứu.

Dựa vào tiêu chí phân loại họ nhạc cụ của Giáo sư Tiến sĩ Tô Ngọc Thanh4, ở đây, chúng ta có thể phân chia các nhạc cụ ra các họ, gồm: màng rung có trống Cái, trống con có hai loại là trống bản và trống dẫn (có khi thay bằng trống Mảnh, hoặc trống Cơm); họ tự thân vang có Chuông, Não bạt, Thanh la, Mõ, Tiu - cảnh; họ dây có đàn Nhị, đàn Nguyệt; họ hơi có kèn Sô na, còn gọi là kèn Bóp hay kèn Già nam, gồm các loại: kèn Tiểu, kèn Trung (còn gọi là kèn Pha). Nhạc cụ trong nghi lễ gọi chung là “Pháp bảo”, được điều khiển bởi Pháp chủ - thường là trụ trì ngồi chùa, nơi tổ chức đàn cầu siêu, hoặc là vị sư có vị chí chính trong nghi lễ - sử dụng với tư cách như là phương tiện kết nối giữa người hành lễ với thần linh, đức Phật.

Để dễ dàng tìm hiểu cơ cấu tổ chức của dàn nhạc nói chung, các nhạc cụ nói riêng, chúng ta có thể chia âm nhạc trong lễ thành hai thành phần là thanh nhạc và các nhịp trống. Thanh nhạc gồm các câu Tán, Tụng, Than, Thỉnh; ngoài ra còn có các câu “đọc” như câu Kệ ( phần mở đầu trong tụng kinh và tán mỗi loại canh; đọc theo cặp mỗi câu bảy chữ), đọc câu Thiết dĩ (thường đọc ở phần mở đầu của một số khoa cúng), và đọc câu Phát hoả (ba đường phát hỏa là thiên hoả, địa hoả và tam nội chân hoả - dùng khi dâng sớ). Trống có các nhịp trống Phát lôi, trống Thượng đường, trống Dẫn lục cúng và trống Xai (ít dùng). Trong hai thành phần chính để cấu thành âm nhạc trong lễ, hầu hết các nhạc cụ có chức năng cụ thể, không chỉ thực hiện việc hỗ trợ, làm tăng hiệu quả âm thanh mà còn tham gia điều khiển các nghi thức trong quá trình lễ.

Tại khu vực Hà Nội, các nhạc cụ được biên chế trong nghi lễ theo hai nhóm là các nhạc cụ bắt buộc và các nhạc cụ được biên chế bổ sung, tức không bắt buộc. Sự khác nhau này chỉ xảy ra ở các nhạc cụ bổ sung, giữa các đội cúng, các địa điểm và vùng khác nhau, trong đó có các ngôi chùa thường xuyên tổ chức lễ cầu siêu ở khu vực Hà Nội; còn các nhạc cụ biên chế cố định được thống nhất trong các đội cúng. Theo đó, các nhạc cụ được biên chế cố định gồm Chuông, Mõ, Thanh la, Não bạt, Tiu - cảnh và hai loại trống là trống Cái và trống Bản. Các nhạc cụ này đôi khi được biên chế theo nhóm, theo khoa cúng, nhưng phần nhiều được sử dụng như một dàn nhạc và hoà tấu trong các không gian hành lễ. Các nhạc cụ bổ sung chủ yếu thuộc về họ dây và hơi, gồm Kèn, Nhị và đàn Nguyệt, có đội cúng thêm cả trống Cơm, trống Dẫn. Tại một số nơi như huyện Gia Lâm, quận Long Biên, cụ thể là ở các chùa Đồng Lim - Gia Lâm, chùa Bồ Đề - Long Biên, các lễ cầu siêu lớn thường có sự tham gia của Kèn, Nhị và đàn Nguyệt. Khu vực Hà Đông thì thường ít thấy sử dụng các nhạc cụ bổ sung, hoặc nếu có là do mời một số thầy cúng ở những khu vực khác tới. Tuy nhiên, không phải tất cả các nghi lễ được tổ chức tại các ngôi chùa này, những nhạc cụ biên chế bổ sung đều như vậy, mà còn tuỳ thuộc vào các đội cúng được mời tới giúp nhà chùa hành lễ. Theo thầy cúng Bùi Văn Nam, một đại diện ở khu vực Hà Đông, thì việc tổ chức các nhạc cụ bổ sung trong các nghi lễ cầu siêu phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng của đội cúng đó, cũng như “thị hiếu” của những người đứng ra hành lễ, trong đó có các sư tăng, thầy cúng. Song, tính ổn định tuơng đối của nó vẫn được bảo lưu trong biên chế và sử dụng các nhạc cụ trong nghi lễ giữa các địa điểm trên địa bàn và thường phố biến theo cách sắp xếp riêng, có thể tổng hợp trong so sánh dưới đây. 

Bảng so sánh biên chế các nhạc cụ được sử dụng phổ biến giữa ba điểm

Họ
nhạc cụ
BIÊN CHẾ NHẠC CỤ GIỮA CÁC ĐIỂM
Ghi chú
Chùa Đống Lim
(Gia Lâm)
Chùa Kiến Hạ
(Hà Đông)
Chùa Pháp Vân
(Thanh Trì)
Tự thân vang
- Mõ
- Chuông nhỏ
- Tiu - cảnh
- Thanh la
- Não bạt
- Mõ
- Chuông nhỏ
- Tiu - cảnh
- Thanh la
- Não bạt
- Mõ
- Chuông nhỏ
- Tiu - cảnh
- Thanh la
- Não bạt
Sử dụng thống nhất, cố định
Màng rung
- Trống cái
- Trống bản
- Trống dẫn
- Trống cái
- Trống bản
-
- Trống cái
- Trống bản
- Trống cơm
Trống cơm sử dụng không thường xuyên
Hơi
- Kèn tiểu (la)
- Kèn pha (pha)
-
-
- Kèn tiểu (la)
-

Dây
- Đàn nguyệt
-
- Đàn nguyệt
-
-
-

Hiện nay, các đội cúng ở các địa điểm trên, các nghi lễ cầu siêu không chỉ có những đội cũng sở tại hoạt động nghề nghiệp, mà còn xuất hiện một số đội cúng hoặc có sự tham gia của một số thầy cúng tới từ tỉnh khác, địa phương khác. Và ngược lại, do xu thế phát triển chung của đời sống văn hóa tâm linh, sự phối kết hợp trong tổ chức nghi lễ ở các địa phương khác nhau, các đội cúng của khu vực Hà Nội nói chung cũng đã tham gia lễ cầu siêu tại nhiều tỉnh thành khác. Trường hợp này thường xảy ra trong các đàn lễ lớn kéo dài nhiều ngày mà số lượng những người hành lễ mà các thầy cúng không đủ, hoặc có thể do vào đúng ngày lễ một trong số thành viên ấy có lý do đặc biệt mà không tham gia được. Trường hợp khác, do nghi lễ được tổ chức với quy mô lớn tại một không gian rộng, nên để tạo không khí trang nghiêm và hoành tráng hơn, những đội các chùa đứng ra tổ chức lễ đàn cầu siêu thường mời các thầy cúng ở các địa phương và đội cúng khác; và như vậy sẽ kéo theo sự thay đổi trong biên chế tại đội cúng đó. Do đó, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, vì trên thực tế, có những trường hợp các thầy cúng của đội này được mời sang cúng giúp cho đội kia, và như vậy sẽ có sự bổ sung biên chế cho các nhạc cụ khác nhau. Hiện nay, có trường hợp một nhà chùa, hoặc một thầy cúng đứng ra nhận “đăng cai” tổ chức một nghi lễ cho gia chủ nào đó, và họ có quyền mời đội cúng, hoặc cá nhân trong ở một địa phương điểm khác tới tham gia. Và như vậy, ranh giới phân chia theo phong cách đội cúng, hay vùng hoặc địa điểm bị xoá nhòa. Nói như vậy để thấy rằng, việc tổ chức và biên chế dàn nhạc trong nghi lễ cầu siêu, nhất là những nhạc cụ được bổ sung luôn ở trạng thái động, có thể được bổ sung và luân phiên biên chế giữa các đội trong quá trình tổ chức một đàn lễ cầu siêu, tại một địa điểm hay các nhóm khác nhau. Theo đó, tuỳ thuộc vào điều kiện hay thói quen sử dụng của nhà chùa, mỗi đội lễ có thể đưa ra quy định trong việc sử dụng các nhạc cụ trong nghi lễ này, cũng như có thể bổ sung biên chế, hoặc giảm bớt một số nhạc cụ, thậm chí cả bộ nhạc cụ trong tổ chức dàn nhạc cho phù hợp với điều kiện, quy mô và không gian của đàn lễ. Qua những chuyến điền dã ở ba địa điểm chính, tại các đàn cầu siều ở các ngôi chùa trên các quận/huyện, cho chúng tôi bước đầu đưa ra nhận xét rằng sự biên chế và phổ biến các nhạc cụ trên đây phụ thuộc vào hai yếu tố: Các nhạc cụ được biên chế chính, bắt buộc và vai trò, chức năng của chúng gắn với từng bước lễ va trong toàn bộ nghi lễ; các nhạc cụ bổ sung được sử dụng tương đối ổn định ở một số địa phương nhưng không cố đinh, kể cả về biên chế và sử dụng các nhạc cụ đó trong các nghi lễ cho đến việc sử dụng nó tại các địa điểm khác nhau. Cho nên, đi sâu vào tìm hiểu vai trò của từng nhạc cụ trong nghi lễ này để thấy rõ hơn tầm quan trọng của chúng gắn với từng bước lễ của nghi lễ cầu siêu. Như trên đã nói, do biên chế nhạc cụ bổ sung có khác nhau giữa các địa điểm, nên cơ cấu trong dàn nhạc lễ cũng có sự khác nhau.

2. Vai trò, chức năng

Nghiên cứu chức năng của mỗi nhóm, cặp nhạc cụ, sử dụng trong nghi lễ Phật giáo ở Việt Nam, trước hết chúng tôi đề cập tới hai nhạc cụ chuông. Đây là hai nhạc cụ đặc trưng, được biên chế thành cặp ở nhiều bước lễ. Chuông là nhạc cụ bằng kim loại đồng, thuộc chi gõ; vật kích âm là chiếc dùi gỗ, kích thước theo từng chiếc chuông lớn nhỏ khác nhau. Chuông có nhiều kích cỡ, theo đó, các chuông sử dụng trong các đàn cầu siêu chủ yếu có hai loại: loại nhỏ trung bình cao từ 8 - 10cm, chiều rộng của miệng bằng chiều cao, đáy bằng 1/4 miệng; chuông lớn có loại cao từ 18 - 20c, tỷ lệ chiều cao và chiều rộng giữa miệng và đáy tương tự với các loại chuông nhỏ. Âm thanh của chuông phụ thuộc vào tỷ lệ hợp kim khi chế tác, song theo tính chất vật lý và quy luật tự nhiên, chuông lớn cho âm thanh ngân vang và trầm, loại nhỏ cho hiệu quả âm thanh ngược lại. Trong nghi lễ cầu siêu, tuỳ thuộc và không gian hành lễ mà người ta sử dụng loại chuông lớn hay nhỏ. Chẳng hạn, khi thực hiện đàn lễ ở không gian rộng, người ta sử dụng loại chuông lớn để tạo âm thanh phù hợp và uy nghi hơn và ngược lại, ở không gian chật hẹp, người ta chỉ cần loại chuông nhỏ.

Đi cùng với chuông là mõ. Mõ thuộc chi gõ, kích âm bằng dùi gỗ; dùi có thể được bọc vải ở đầu khoặc không. Khác với loại “mõ làng” - chế tác bằng gốc tre già khô, mõ sử dụng trong nghi lễ Phật giáo được chế tác bằng cách từ một thớ gỗ mít lớn khoét rỗng giữa rồi để một khe giữa và hai lỗ hai bên làm điểm thoát hơi. Mõ cũng có kích thước không bằng nhau. Cũng giống như chuông, mõ lớn cho âm thanh trầm và sâu, loại nhỏ cho ra âm thanh ngắt gọi và thanh hơn. 

Chuông và mõ chủ yếu sử dụng trong nghi lễ tụng kinh, có quan hệ mật thiết với nhau và phụ thuộc vào nhau. Đôi khi chuông giữ vai trò chủ đạo và ngược lại. Mở đầu và kết thúc phần tụng kinh, bao giờ người ta cũng đánh ba hồi chuông. Kết thức ba hồi chuông mới bắt đầu tụng kinh. Trong khi tụng, mỗi câu kinh trùng với một tiếng mõ; và đương nhiên nhịp độ giữa các câu kinh và tiếng mõ tỷ lệ thuận và gắn kết với nhau. Mõ và chuông không chỉ được biên chế cố định trong tụng kinh và các lễ tụng kinh, mà còn được sử dụng trong các nghi lễ khác, như trong các câu thỉnh phật, đọc kệ, thiết dĩ... nhưng ở đây chủ yếu thấy vai trò của chuông. Cũng giống như trong tụng kinh, chuông ở các hình thức này cũng chỉ điểm với tư cách là đánh dấu câu, chỉ điểm vào những đoạn ngưng nghỉ của thầy cúng trong quá trình đọc. Đến mỗi đoạn kến thúc, thì chuông đổ nhẹ một dồn ngắn mà thôi. Mỗ và chuông còn được biên chế với nhiều hình thức khác âm nhạc khác, trong đó có hình thức tán canh. Tán canh ở các khoa cúng, mõ và chuông giữ vai trò “cầm trịch”, giữ nhịp và điều khiển nhịp độ. Người cầm trịch gọi là pháp chủ, sẽ ngồi đầu tiên trong cơ cấu biên chế các nhạc cụ trong tán canh.

Ngoài mõ và chuông, các nhạc cụ đặc trưng có vai trò quan trọng còn có trống, thanh la và não bạt. Trống ở đây là trống hai mặc da, có hai loại: một trống cái và một trống ban. Trống cái không có quy định về kích thước rõ ràng, nhưng thường thấy nhất là trống có chiều cao trung bình từ 80 - 90cm, đường kính khoảng 50cm. Trống ban cơ bản có kích thước khá thống nhất, chiều cao trung bình từ 10 - 12cm, đường kính khoảng 35cm. Thanh la và não bạt thường có kích thước về đường kính tương đương nhau, được chế tác bằng đồng. Thanh la kích âm bằng cách sử dụng dùi gỗ gõ vào tâm của mặt ngoài; não bạt có cấu tạo thành cặp tương xứng nhau, hai nún ở tâm điểm nên kích âm bằng cách dùng hai tay va đập hai mặt vào nhau.

Sự phối hợp của trống, thanh la, não bạt góp phần tạo nên nét đặc trưng riêng cho nghi lễ cầu siêu cũng như tạo không khí trang trọng và khí thế trong nghi lễ. Trong suốt quá trình hành lễ, ba nhạc cụ này được sử dụng liên tục với vai trò chính là chuyển đoạn để kết thúc các phần lễ. Theo đó, khi kết thúc mỗi khoa cúng, hoặc một phần lễ, thì các nhạc cụ này thường sử bốn nhịp trống là Pháp lôi, Dẫn lục cúng, Hiến thượng đường và trống Xai. Tên của nhịp gắn với trống cái nên các nhạc cụ đi cùng chỉ có chức năng hỗ trợ, làm cho nhịp trống hấp dẫn và phong phú hơn mà thôi. Cùng với bên cạnh tiu - cảnh, trống cái và não bạt có vai trò chính quan trọng, tạo không khí rộn ràng đặc trưng, thể hiện sự tôn nghiêm của toàn bộ không gian thiêng trong nghi lễ.

Sự phối hợp đông đủ nhất giữa trống và cái, não bạt và các nhạc cụ trong nghi lễ cầu siêu tập trung ở các phần tán canh. Đó là sự có mặt chủ chốt của tiu - cảnh, đàn nguyệt, kèn và nhị. Về cặp nhạc cụ tiu - cảnh, trước đây, trong phần giới thiệu về tán canh - một hình thức thanh nhạc đặc trưng trong nghi lễ cầu siêu, chúng tôi đã đề cập tới cặp nhạc cụ này. Đây là hai nhạc cụ gắn kết chặt chẽ với các hình thức tán canh và có mặt ở hầu hết trong các khoa cúng, bước lễ. Tiu và cảnh là hai nhạc cụ thuộc chi gõ, có những đặc điểm cấu tạo gần giống nhau, được chế tác bằng kim loại đồng thau. Tiu có hình dáng gần giống với chiếc bát ăn cơm, đường kính phổ biến khoảng 11 - 12cm (phần miệng), chiều cao khoảng 4cm. Cảnh thường có bán kính rộng hơn không đáng kể, khoảng 12 - 13cm (phần miệng), phần đáy khoảng 10cm, chiều cao phần đáy khoảng 1,5cm. Khi diễn tấu, hai nhạc cụ này được úp xuống, đặc cạnh nhau, tiu nằm bên tay trái, còn cảnh nằm bên tay phải của người sử dụng. Vật kích âm là một chiếc dùi làm bằng thanh tre mỏng, giữ lại phần mấu ở đầu. Dùi này có chiều dài khoảng 25cm. Cũng giống như chuông và mõ trong tụng kinh, trong khi tán canh, tiu được sử dụng điểm những âm hình tiết tấu chính, còn cảnh thường có vai trò giữ nhịp, điểm vào các trọng âm. Trong tán canh, vai trò của tiu - cảnh được ví như cỗ phách trong nghệ thuật ca trù. Tiết tấu của nhạc cụ này cũng khá phức tạp. Những người học tán canh, trước hết phải học thuộc các loại nhịp (các sư tăng và thầy cúng gọi là dịp). Các thầy cúng cho biết, canh thống nhất sử dụng một loại nhịp để đệm, nhưng trên cơ sở mô hình tiết tấu chủ đạo đó mà người ta có thể biến hoá hoặc phát triển chúng tạo ra sự phong phú và độc đáo riêng.

Những phân tích về vai trò của từng nhạc cụ trên đây cho thấy quan hệ gắn kết giữa âm nhạc, giữa các nhạc cụ trong nghi lễ là quan hệ hữu cơ, quy định và tác động qua lại lẫn nhau theo những nguyên tắc nhất định. Trong quá trình diễn xướng, mỗi nhạc cụ đều thể hiện được chức năng và vị trí riêng trong quan hệ chung khi tác hợp với một nhạc cụ hay nhóm nhạc cụ khác. Theo đó, có nhạc cụ khi này có vai trò hỗ trợ nhạc cụ kia, nhưng trong trường hợp khác lại có vai trò chủ đạo. Cứ như thế, chúng gắn kết, hỗ trợ và bổ sung cho nhau, kết hợp và gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình hành lễ, tạo ra một hiểu qua âm thanh với những đặc trưng độc đáo riêng gắn với từng bước lễ cụ thể.

Về các nhạc cụ bổ sung, việc sử dụng kèn và hai nhạc cụ dây là nhị và đàn nguyệt là phổ biến hơn cả. Kèn thông thường người ta hay sử dụng lại kèn tiểu, còn gọi là kèn la, vì có cấu tạo âm thanh nốt thấp nhất ở âm la thuộc quãng tám thứ nhất. Kèn tiểu có âm thanh cao và âm sắc tươi vui hơn so với hai loại kèn còn lại, do đó, theo các thầy cúng, loại kèn này phù hợp với với các kho cúng Phật. Nhưng ngoài kèn tiểu, trong đàn này, có đội cúng còn sử dụng cả kèn trung, còn gọi là kèn pha. Kèn này cho ra âm thanh trầm hơn, mang màu sắc buồn hơn vì thế thường được sử dụng trong trong các khoa cúng độ âm, tiếp linh và triệu linh. Các đội cúng và đàn lễ sử dụng hai nhạc cụ này, khi sử dụng trong đàn lễ, có nhiều đoạn người ta biên chế kèn đi với trống, phối hợp với nhau trong những đoạn nối giữa các tiểu khoa cúng trong một khoa cúng cũng như một phần lễ. Chẳng hạn, sau khi thỉnh Phật, người ta sử dụng nhịp trống Hiến thượng đường kết hợp với diễn tấu kèn để nối sang một phần cúng khác. Hay khi bắt đầu vào phần cúng chạy đàn - phá ngục, thông thường người ta sử dụng nhịp trống Phát lôi hoặc trống xai phối hợp với kèn để mở đầu cho khoa cúng, tạo không khí rộn ràng và khí thế. Mặc dù chỉ là những nhạc cụ được bổ sung, nhưng kèn cùng với trống cái đã làm cho không gian của nghi lễ cầu siêu trang trọng, uy nghi hơn trong các khoa cúng Phật. Riêng về hai nhạc cụ Nhị và đàn Nguyệt, cũng giống như kèn, hai nhạc cụ này được biên chế bổ sung vào dàn nhạc với chức năng hoà tấu và đệm cho giai điệu một số hình thức thanh nhạc, như tán canh, hay trong các câu than cô hồn; riêng nhị đôi khi được đưa vào đệm cho giai điệu khi đọc câu thiết dĩ.

Các nhạc cụ trên đây hầu như có mặt trong tán canh - một hình thức thanh nhạc đặc trưng trong nghi lễ cầu siêu. Tuỳ từng nên tán canh có mặt trong hầu hết các bước lễ và khoa cúng (canh ai dùng trong cúng độ âm ở đàn lễ tiếp linh và triệu linh; các loại canh: giả tổ (lô hương, xạ nhiệt), chí tâm, phú, hoàng kim, thổng, hãm, giới đinh, dương chi, tả thủ, hồng tự (cửu hồng), đông babảo đỉnh (đàn thượng) dùng trong cúng phật). Cũng trong quá trình tán canh, gần như các nhạc cụ sử dụng trong nghi lễ cầu siêu đều có mặt. Chúng được sắp xếp theo một tổ chức chung, nhất định, theo nguyên tắc bên tả và bên hữu. 

Sơ đồ tổ chức vị trí của các nhạc cụ trong nghi lễ cầu siêu được sắp xếp phổ biến

Chuông- Mõ (pháp chủ)
Trống ban
Tiu- cảnh
Trống lớn
Thanh la
Não bạt
Kèn - Nhị - đàn Nguyệt

Đây là cách sắp xếp phổ biến trong nghi lễ cầu siêu, cơ bản cố định trong các khoa cúng, bước lễ trong suốt quá trình hành lễ. Theo sự sắp xếp này, có thể thấy rằng việc tổ chức này không căn cứ vào vị trí của âm thanh, mà phụ thuộc vào chức năng và vai trò của các nhạc cụ. Ở đây, Mõ và Chuông là hai nhạc cụ đứng vai trò điều khiển, “cầm trịch” trong hầu hết các khoa cúng, nên cơ bản được đặt ngay ở vị trí đầu, trước các nhạc cụ còn lại. Thông thường, biên chế và sử dụng nhạc cụ trong đàn lễ, thì mỗi người sẽ đảm nhiệm một nhạc cụ. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thiếu người, hay do nhiều nguyên nhân khác nhau, thì nhiều trường hợp một người có thể sử dụng hai nhạc cụ. Chẳng hạn như người sử dụng Kèn có thể sử dụng Nhị trong những phần tán canh, hoặc sử dụng đàn Nguyệt trong phần than cô hồ. Người sử dụng trống lớn có thể đồng thời sử dụng Thanh la, vì trong quá trình tán canh, trống cái thường chỉ có chức năng giữ nhịp, và đi theo nhịp một với số lượng tiết tấu ít mà không sử dụng kỹ thuật diễn tấu phức tạp nên có thể đặt thanh la ngay bên cạnh và sử dụng song song với trống cái, v.v...

* * *

Âm nhạc trong nghi lễ cầu siêu đã thể hiện được tính đặc trưng của riêng mình so với nhiều hình thức âm nhạc tín ngưỡng khác, như âm nhạc trong tế lễ - rước thành hoàng làng, hay các hình thức âm nhạc tang lễ ngoài dân gian..., thậm chí thể hiện được đời sống độc lập tương đối của mình trong tổng thể của nghi lễ Phật giáo Đây là kết quả của quá tình tích hợp và giao thoa giữa tín ngưỡng bản địa trên cơ sở chính là âm nhạc và tín ngưỡng Phật giáo - đã giúp cho lễ cầu siêu trở thành một hiện tượng văn hóa thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác nhau. Nghiên cứu âm nhạc trong nghi lễ cầu siêu, trong đó việc nghiên cứu tổ chức các nhạc cụ trong suốt quá trình hành lễ góp phần từng bước làm sáng tỏ vấn đề về nguyên tắc sử dụng của từng nhạc cụ, từng nhóm nhạc cụ gắn liền với các bước lễ. Có thể nói, qua tám bước lễ ( gồm Tiếp linh, Pháp tấu, Cúng Phật, Triệu linh, Tụng kinh, Khai phương - phá ngục, Giải oan - cắt kết, Cúng cháo - cúng dàng) và các hình thức âm nhạc trong toàn bộ nghi lễ gồm tụng, tán, thỉnh, than - với một nghiên cứu bước đầu về tổ chức dàn nhạc và chức năng của chúng có cái nhìn tổng quan về việc sử dụng dàn nhạc trong lễ. Với một tổ chức, biên chế các nhạc cụ trong nghi lễ cầu siêu tuy không nhiều, cũng không phong phú, nhưng khi gắn với đặc điểm các bước lễ, không gian và gắn với các hình thức âm nhạc đặc trưng trong đó, các nhạc cụ trong nghi lễ cầu siêu đã làm nổi bật chức năng và vai trò của nó trong đàn lễ đặc biệt này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Xuân Tùng, Một số suy nghĩ về phân loại nhạc cụ, Tạp chí Âm nhạc, số 2, Hà Nội - 1983
2. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Âm nhạc Việt Nam, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh - 2001
3. Trần Văn Khê, Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb. Trẻ,
Tp. Hồ Chí Minh – 2004
4. Tư liệu điền dã


1 Chúng tôi dùng khái niệm “Đội cúng” để chỉ những nhóm chuyên thực hiện các nghi lễ cầu siêu, trong đó bao gồm các sư - tăng và thầy cúng
2 Lê Mạnh Thát, Lịch sử âm nhạc Việt Nam, phần Đạo Cao và nền âm nhạc Tiên Sơn, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh - 2001, Tr. 292
3 Trần Văn Khê, Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb. Trẻ - 2004, Tr.409
4 Theo Đỗ Xuân Tùng, Một số suy nghĩ về phân loại nhạc cụ, Tạp chí Âm nhạc số 2, Hà Nội - 1983

*Bài viết do tác giả Nguyễn Đình Lâm (Viện Âm nhạc) gửi riêng cho Nguyễn Xuân Diện Blog, và công bố lần đầu tại NXD-Blog năm 2010. Xin chân thành cảm ơn tác giả.

DIỄN XƯỚNG THANH NHẠC PHẬT GIÁO TRONG NGHI LỄ CẦU SIÊU



DIỄN XƯỚNG THANH NHẠC PHẬT GIÁO 
TRONG NGHI LỄ CẦU SIÊU

Nguyễn Đình Lâm

Trong cuốn Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, thanh nhạc được định nghĩa như sau: “Thanh nhạc (Thanh: tiếng; nhạc: âm nhạc), ngành nhạc luyện giọng hát: nghệ sĩ về thanh nhạc”1. Theo chúng tôi, định nghĩa này đúng nhưng chưa đủ. Vậy xin bổ sung và làm rõ thêm: Thanh nhạc là một bộ môn âm nhạc mà ở đó, con người sử dụng thanh đới phối hợp với khoang miệng và mũi làm cơ sở diễn xướng. Tất cả những diễn xướng từ nguồn gốc trên, như hát, gọi, kể, khóc... đều thuộc đối tượng nghiên cứu của thanh nhạc. Vậy, thanh nhạc bao gồm cả những phát âm - diễn xướng kèm theo lời nói, có nội dung truyền đạt một thông tin cụ thể, nhưng cũng có khi chỉ là những âm thanh mà thông tin đơn giản là những tín hiệu dưới dạng nguyên âm đơn hay những hư từ ngẫu nhiên, nội dung không được xác định rõ ràng. 

Nghiên cứu và phân loại thanh nhạc trong nghi lễ Phật giáo, chúng ta có thể tìm được khá nhiều thể loại độc đáo, từ nội dung, tính chất âm nhạc cho tới hình thức diễn xướng. Bài viết này bước đầu đề cập tới bốn thể loại thanh nhạc được coi là đặc trưng và sử dụng phổ biến với thời lượng lớn trong nghi lễ Cầu siêu. Đó là Kinh, Kệ, Canh và Than. 

1. Đặc điểm thể loại

Kinh, Canh, Kệ và Than đều có văn bản, được sử dụng trong nghi lễ Cầu siêu - Phật giáo như một nguyên tắc bắt buộc. Nội dung của những văn bản này được thể hiện bằng cách phối hợp với những giai điệu âm nhạc và được gắn kết chặt chẽ với nhau. Giai điệu của mỗi thể loại được sử dụng như một phương tiện đóng góp tích cực trong quá trình chuyển tải nội dung các điển tích cũng như tôn chỉ của nhà Phật. Thông qua giai điệu âm nhạc mà nội dung được truyền tới người nghe một cách dễ hiểu, dễ tiếp nhận. Xét theo góc độ ý nghĩa sử dụng, thì mỗi nội dung đều có vai trò và vị trí nhất định, gắn chặt với quá trình hành lễ. 

Kinh đóng vai trò quan trọng trong các nghi lễ Phật giáo nói chung, nghi lễ Cầu siêu nói riêng. Theo Từ điển Nho - Phật - Đạo, Kinh là thuận ngữ của cả Phật giáo và Nho giáo2. Riêng Phật giáo, “Kinh là một trong Tam tạng (3 tạng), chỉ các văn hiến ghi chép sự tích điển cố Phật giáo và nội dung thuyết giáo của Phật Đà”3. Vậy, Kinh ở đây được hiểu là kinh sách, học thuyết phản ánh tư tưởng, nhân sinh quan và thế giới quan... của đạo Phật. Phật giáo sử dụng Kinh trong các khoa cúng như một quy định bắt buộc. 

Kinh được phổ biến bằng nhiều hình thức, như giảng, đọc, nói chuyện, nhưng hình thức chủ yếu và thường gặp nhất “tụng” trong các ngôi chùa. Về mặt âm nhạc - thanh nhạc, Kinh được tụng với nhiều âm điệu khác nhau, tuỳ theo vùng miền và tông phái. Đây là đặc điểm nổi bật của âm nhạc Phật giáo Việt Nam nói riêng, âm nhạc truyền thống Việt Nam nói chung trong quan hệ gắn liền với văn hóa và ngôn ngữ bản địa. Giai điệu và tính chất âm nhạc trong Kinh được phụ thuộc và ảnh hưởng trực tiếp từ thanh điệu và ngữ âm trong ngôn ngữ và văn hóa âm nhạc dân gian địa phương. Nói cách khác, Kinh thể hiện được tính phương ngữ rõ nét. Một thí dụ, cũng là Kinh A Di Đà, nhưng giữa các sư tăng khu vực Hà Nội và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh tụng có âm điệu hoàn toàn khác nhau4. Các khóa tụng Kinh mà chúng ta có thể nghe từ các sư tăng, hòa thượng phía Nam đọc, có thể dễ dàng nhận thấy ở đó phảng phất âm điệu của những bài Hò sông nước, hay những bài dân ca Nam bộ nói chung. Cũng như vậy, giai điệu trong những bộ Kinh mà các sư tăng, hòa thượng khu vực Hà Nội tụng lại có âm hưởng dân ca vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, khi tập trung lắng nghe, ít nhiều có âm điệu của loại hát Ví. Thậm chí, âm điệu cũng như cách thức tụng cũng có đôi chút khác nhau ngay trong một khu vực, giữa các tăng - ni hay theo ngôi chùa. 

Kinh được sử dụng trong các nghi lễ và thường nhật của Phật giáo. Trong các ngôi chùa, Kinh được cử hành ba khóa một ngày: buổi sáng, buổi trưa và buổi tối. Buổi sáng, khoảng từ 4 - 5 giờ, các tăng - ni thường tụng Kinh Thủ Lăng nghiêm hội, Bát nhã, Hồi hướng và A Di đà; buổi trưa, vào lúc 12 giờ, thường tụng Kinh A di đà, Kinh Sám hối; và vào buổi tối, khoảng từ 6 - 7 giờ, thường tụng Kinh A Di đà và Huân tu. Trong nghi lễ Cầu siêu, Kinh được sử dụng như một quy định bắt buộc trong hầu hết các khoa cúng, từ cúng độ âm (như tiếp linh, triệu linh, giải oan - cắt kết, chạy đàn - phá ngục), cho tới những khoa cúng Phật. Kinh được tụng trong nghi lễ này có nhiều bộ, nhưng phổ biến là Kinh Di đà, Kinh Pháp hoa, Kinh Báo ân và Kinh Thủy sám.

Nếu như Kinh được coi như phép pháp nhà Phật, thì Canh, ngoài bao hàm một phần ý nghĩa trên, còn là phương tiện tôn vinh Đức Phật, đồng thời kết nối người hành lễ với thần linh. Về nội dung, Canh cũng bao hàm một phần nội dung trong các Kinh, sử dụng làm phương tiện thứ hai để răn dạy những tôn chỉ và hóa giải đại chúng hướng tới những chân lý chung của nhà Phật. Canh chủ yếu được tổng hợp dưới hình thức thơ: 
“ ... Tiếp dẫn linh hồn nhiên tuệ cự
Đường đường phố phóng ngọc hào quang
Nam mô dẫn linh hồn Bồ Tát Ma Ha Tát (ba lần)5

So sánh với các thể loại thanh nhạc trong nghi lễ Cầu siêu, có thể nói Canh là một đặc trưng, diễn ra với một thời lượng lớn trong toàn bộ nghi lễ. So với âm nhạc trong nghi lễ tín ngưỡng khác, thì Canh là một hiện tượng âm nhạc độc đáo, một trong những đại diện của âm nhạc nghi lễ Phật giáo. Nếu như Hát văn được coi như âm nhạc đặc trưng trong tín ngưỡng Tứ phủ, thì tán Canh chính là một trong những thể loại âm nhạc đặc trưng trong nghi lễ Cầu siêu nói riêng, Phật giáo nói chung. 

Canh có hai loại âm điệu với đặc điểm và tính chất đối lập nhau, đó là Canh Ai và Canh Lạc. Canh Ai có âm điệu buồn, chỉ dụng trong cúng độ âm ở nghi lễ tiếp linh và triệu linh. Canh Lạc có âm điệu vui tươi, hoan hỷ, được dùng trong các khoa cúng Phật. Những người hành lễ khu vực Hà Nội cho biết, hiện nay, tại vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng có ba vùng Canh với ba phong cách tán khác nhau. Đó là Canh Đông (Hải Phòng, Hải Dương, một phần của tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên), Canh Nam (khu vực Nam Đinh, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình) và Canh Hà Nội (chủ yếu khu vực Hà Nội và một phần của tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên). Tại khu vực Hà Nội, hiện nay, là nơi còn lưu giữ được số lượng bài bản Canh khá phong phú và đa dạng. Hiện tại, ở đây còn lưu giữ được khoảng 13 bài Canh ứng với tên gọi cụ thể, gồm: Canh Ai, Canh Giả tổ (Canh Lô hương, Canh Xạ nhiệt), Canh Chí tâm, Canh Phú, Canh Hoàng kim, Canh Thổng, Canh Hãm, Canh Giới đinh, Canh Dương chi, Canh Tả thủ, Canh Hồng tự (canh Cửu hồng), Canh Đông ba và Canh Bảo đỉnh (Canh Đàn thượng). Trước đây, tại khu này còn tồn tại ba “lò” Canh. Đó là lò Canh chùa Bộc, lò Canh Quảng Bá - Tây Hồ và lò Canh chùa Thanh Nhàn. 

Cũng có đặc điểm, cấu trúc và tính độc lập tương đối của một thể loại thanh nhạc, Kệ được đề cập và nghiên cứu như một đối tượng âm nhạc có tính chất, sắc thái và đặc trưng riêng. Kệ thường gắn kết với Kinh và Canh. Trước khi tụng Kinh và tán Canh, bao giờ các sư tăng, thầy cúng cũng đọc những cặp câu Kệ 7 chữ. 

Về mặt âm nhạc, Kệ thể hiện được tính chất và sắc thái riêng khi gắn kết với các thể loại Canh và Kinh. Nếu như mang so sánh với một số thể loại, hình thức âm nhạc dân gian truyền thống khác, thì chúng ta có thể coi sự tồn tại của Kệ như là phần mở đầu của: Bỉ trong Quan họ, Vỉa trong nghệ thuật Chèo và phần Miễu trong Hát nói của của nghệ thuật Ca trù. Do đó, Kệ có quan hệ mật thiết với Kinh và Canh nhưng có những nét riêng ổn định. Về nội dung của Kệ, theo từ điển Nho - Phật - Đạo, thì đó là “Thể văn Phật giáo... Có các loại 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ và 32 chữ. Là văn vần, loại thể tài giống như thơ. Dùng để truyền bá giáo lý Phật pháp”7. Theo cách hiểu này, thì Kệ cũng là một dạng văn bản mang nội dung tư tưởng và triết lý Phật giáo và đời thời được đúc rút, tóm lược dưới dạng thơ hoặc văn vần. Xét về góc độ nào đó, thì Kệ gần giống với hình thức nghệ thuật câu đối đã tồn tại và phát triển lâu đời ở Trung Quốc và Việt Nam. Nếu như ở Trung Quốc, Kệ có các thể/ chữ trên, thì ở Việt Nam hiện nay, Kệ phổ biến là thể gồm có hình thức là 5 từ và 7 từ:
Thân như bóng chớp có dồi không,
Cây cối xuân tươi, thu não nùng.
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ ngọn sương đông
                         (Thiền sư Vạn Hạnh (? - 1018);  Ngô Tất Tố dịch6)
Và thể được viết dưới hình thức 5 từ:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Sứ sứ tức đao binh
                      ( Thiền sư Pháp Thuận(? - 991)7

Hiện nay, trong nghi lễ Cầu siêu ở khu vực Hà Nội phổ biến dùng các cặp câu Kệ 7 từ. Về vị trí diễn xướng, Kệ chỉ được đọc trước khi tụng Kinh và tán Canh. Các sư tăng thường đọc những cặp câu Kệ trước khi vào tụng Kinh. Mỗi bộ Kinh gắn với một bài Kệ. Trong Canh cũng có Kệ. Trước khi tán Canh, bao giờ các sư tăng, thầy cúng cũng đọc những cặp câu Kệ. Theo đó mỗi loại Canh gắn với một câu Kệ. Chẳng hạn, Canh phú đi với Kệ phú, mà Canh hương đi với Kệ hương. 

Cùng với Canh, Than cũng là một thể loại có nhiều nét độc đáo, tạo nên nét riêng cho không gian thiêng của nghi lễ Cầu siêu. Về mặt nội dung văn bản, Than là một dạng văn tế. Trong lễ Cầu siêu, Than được sử dụng phổ biến trong khoa cúng Cắt kết, khoa Đàn thượng và các khoa cúng Triệu linh, Phát tấu. Nội dung trong các bài Than là những lời kể lể về những cái chết khác nhau, được viết theo thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Trong nhiều bài Than được viết, người ta thường nhắc tới bài Văn tế thập nhị chúng sinh của Đại Thi hào Nguyễn Du (1765 - 18228):
.....
Kìa những kẻ chìm sông lạc suối
Cũng có người sẩy cối sa cây
Có người leo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành
Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người có đẻ không nuôi
Có người sa sảy, có người khốn thương...
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn siêu phách lạc biết đâu bây giờ ?
                                           (Trích)
Đây là bài văn tế cô hồn đặc sắc mà Nguyễn Du đã viết lên bằng nỗi niềm cảm thông sâu sắc tới thân nhân gia đình và những người đã khuất. Thông qua thể văn này, cùng với âm điệu mang đặc trưng riêng, Than đã chuyển tải được tính chất ai oán vì nỗi đau âm dương cách biệt, mà những người hành lễ thay lời gia đình than lên: 
Ruột già không kẻ chí thân
Dẫu làm lên được dành phần cho ai
Khi nằm xuống không ai nhắn nhủ
Cửa Phù vân dẫu có như không
Tuy rằng tiền chảy bạc ròng
Khi đi đem được một đồng nào đi…
                                    (Trích theo Nghĩa Mông Sơn Văn tế cô hồn9)

Trên phương diện âm nhạc, Than có âm điệu gần với giai điệu trong Canh ai, cũng có những đặc điểm gần với hát Chèo, nhưng mang sắc thái ảm đạm hơn và tiết nhịp chậm hơn. Tính chất ai oán chính là nét đặc trưng trong thể loại thanh nhạc Than.

Bốn thể loại, Kinh, Canh, Kệ và Than luôn có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau trong quá trình hành lễ. Kinh và Kệ, Kệ và Canh luôn gắn kết với nhau. Đôi khi, vừa thực hiện xong khóa tụng Kinh, các sư tăng, thầy cúng bắt đầu cử hành tán Canh và ngược lại. Tương tự, Than có thể được sử dụng ngay sau hoặc trước khi tụng Kinh, trong từng trường hợp cụ thể. Trong bốn thể loại thanh nhạc này, có ba thể loại là Kinh, Canh và Kệ, trong suốt quá trình hành lễ được luân phiên thay đổi nhau, tạo thành những mắt xích xâu chuỗi lại theo một thể liên hoàn, phục vụ đắc lực cho người hành lễ.

2. Hình thức diễn xướng

Nhìn chung, các thể loại đều có ít nhất một hình thức diễn xướng trùng hợp. Trong bốn thể loại trên, thì Kinh có hình thức diễn xướng phong phú hơn cả. Đó là diễn xướng đơn, xướng - xô và hình thức diễn xướng đồng thanh tập thể. 

Diễn xướng đơn (còn gọi là Mõ một) là hình thức tụng chủ yếu trong các nghi lễ thường nhật của nhà chùa. Hình thức này chỉ dành cho một vị là tăng - ni cùng với cặp chuông - mõ ngồi tụng. Trong lễ Cầu siêu, diễn xướng đơn được phổ biến trong hầu hết các khoa cúng, đặc biệt là trong khi tụng Kinh. 

Diễn xướng theo hình thức xướng - xô, có thể gọi là hình thức nhắc lại, chúng ta thường thấy xuất hiện trong diễn xướng âm nhạc dân gian, như  giao duyên - đối đáp, Hò sông nước và Hò chèo cạn trong dân ca người Việt... Một số người làm âm nhạc chuyên nghiệp và các nghệ nhân gọi người diễn xướng chính trong hình thức này là “xướng”, tức người “sô lô”, còn tập thể đồng thanh xô theo đáp lại gọi là “xô”. Trong nghi lễ Phật giáo, đây là hình thức được xuất hiện trong khoa cúng có sự tham gia của nhiều người, hay trong các nghi lễ lớn, thường gặp nhất trong mùa an cư - kết hạ (tính từ ngày 15, 16 tháng Tư cho tới tháng Bảy Âm lịch) hàng năm. Các tăng - ni thường tập trung lại để học tập và trau rồi Kinh sách. Tại đây, các cao tăng, hoà thượng sẽ thực hiện việc tụng/giảng Kinh; các tăng - ni ngồi phía dưới sẽ thực hiện việc tụng/nhắc lại. ở đây, pháp chủ vẫn là người “cầm trịch”, tụng đơn chính, còn tập thể ngồi phía dưới (gồm tăng - ni hay phật tử)  nghe giảng Kinh sẽ đồng thanh tụng theo (phổ biến và thường gặp nhất) câu cuối của mỗi ý trong phần kết của mỗi câu Kinh. Sau khi kết thúc một hồi Kinh, các tăng - ni thường tụng câu “Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, hay “Nam mô lịch đại Tổ sư Bồ Tát” - thì ngay sau đó, các tăng - ni và Phật tử ngồi phía dưới sẽ bắt vào bốn từ cuối, cũng có khi “xô” theo cả câu của phần đó. Trong nghi lễ Cầu siêu, khi sư tăng thực hiện khoa cúng Phật, thì các thầy cúng và thân nhân gia đình (gọi chung là Phật tử) ngồi phía dưới chắp tay vái kết hợp tụng theo những câu cuối của mỗi hồi Kinh; hình thức này còn xuất hiện trong số phần niệm, thỉnh khác. 

Hình thức thứ ba là hình thức diễn xướng đồng thanh tập thể. Đây là hình thức phổ biến trong các nghi lễ Phật giáo lớn. Đồng thanh tập thể cũng xuất hiện vai trò của pháp chủ với tư cách là người “cầm trịch” để dẫn dắt môn tăng, “dàn hợp xướng” vào những câu sau đó của cả một phần tụng Kinh kéo dài. Sau khi pháp chủ kết thúc sáu tiếng mõ và vào những câu đầu tiên thì ngày sau đó, tất cả tăng - ni ngồi phía dưới đồng thanh cùng tụng theo. 

Tương tự như Kinh, Canh được diễn xướng dưới hai hình thức là diễn xướng hai người và diễn xướng đồng thanh tập thể. Diễn xướng hai người ít được phổ biến, chủ yếu diễn ra khi tổ chức một nghi lễ lớn, thời gian cho diễn xướng tán Canh có thể kéo dài hàng tiếng, thậm chí nhiều tiếng đồng hồ (đối với những khoa cúng được thực hiện liên tiếp nhau). Cho nên, các sư tăng, thầy cúng thường phân chia và thay đổi nhau để có thể thực hiện nối tiếp nhau trong một thời lượng lớn. Trong khoa cúng độ âm, đặc biệt là khoa tiếp linh và triệu linh, thời lượng cho diễn xướng tán Canh có thể chiếm 1/2, thậm chí 2/3 tổng thời gian trong toàn bộ khoa cúng. Tuy nhiên, có thể nói, hình thức phổ biến trong diễn xướng tán Canh vẫn là hình thức tập thể. Thông thường, dưới sự điều khiển của pháp chủ, sau khi kết thúc một cặp câu Kệ, các sư tăng, thầy cúng cùng đồng thanh tán Canh.

Nếu như Kinh có tới ba hình thức diễn xướng, thì Kệ chỉ được diễn xướng dưới một hình thức duy nhất là đọc dưới dạng đối đáp. Mỗi cặp câu Kệ sẽ do hai người đọc, mỗi người một câu - theo hình thức Tả - Hữu. Khi vào đọc Kệ, thông thường Pháp chủ là người đọc trước rồi mới tới hai người hai bên. Chẳng hạn một phần diễn xướng trong Canh Lô hương. Pháp chủ đọc: “Đại thánh cứu bạt minh đồ/ Bản tôn địa tạng Vương Bồ Tát”; sau đó tới bên Tả: “Từ bi quảng đại diệu nan lường/ Cứu bạt minh đồ địa tạng vương”; người bên Hữu đối tiếp: “Tích trượng sao thời khai địa ngục/ Thần châu chiểu sứ triệt cung thương”. Như vậy, trong một số khoa cúng, ngoài Pháp chủ đọc câu dẫn, phần Kệ gồm có hai người: bên Tả và bên Hữu.

Gần giống với hình thức diễn xướng của Canh, Than được thể hiện dưới hai hình thức là diễn xướng đồng thanh và diễn xướng nối tiếp đơn lẻ. Đồng thanh nghĩa là cùng một nội dung bài văn tế đó, được cả một tập thể từ 3 - 5 người, thậm chí nhiều hơn, cùng Than. Diễn xướng nối tiếp đơn lẻ là hình thức mà ở đó, mỗi người sẽ thực hiện một đoạn, kết thúc phần của người này thì người khác nối tiếp vào. Trong bài Văn tế Thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, khi thực hiện Than, mỗi thầy cúng sẽ than một câu, hoặc kể về một cái chết cụ thể. Chẳng hạn: Người A Than cho vong “Cũng có kẻ đào hang sẻ núi/ Chặn năm ba cây cối rừng xanh/ Hầm sâu đá sập nát thân...”. Kết thúc về vong này, người B sẽ thực hiện một vong khác: “Cũng có kẻ tiền nhi tấm bé/ Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha”, v.v.. Cứ như vậy, lần lượt mười cái chết, mười loại cô hồn khác nhau được các thầy cúng nối tiếp nhau than. Hình thức này phổ biến trong sinh hoạt ca hát đối đáp dân ca ở hầu hết các tộc người trên đất nước ta. Có một đặc điểm dễ nhận thấy trong thể loại Than là, câu kết của một người bao giờ cũng khép lại bằng đoạn: “cô hồn ơi, cô hồn !” 

Như vậy, diễn xướng thanh nhạc trong nghi lễ Cầu siêu có năm hình thức, gồm diễn xướng đơn lẻ, diễn xướng theo cặp hai người, diễn xướng dưới hình thức đối đáp, diễn xướng tập thể và xuất hiện cả hình thức xướng - xô. Tất cả những hình thức này đều có trong các hình thức diễn xướng trong âm nhạc dân gian truyền thống, và trong cả nghệ thuật thanh nhạc chuyên nghiệp. Đây là sự giao thoa, ảnh hưởng và có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa đời sống âm nhạc tôn giáo trong quan hệ và ảnh hưởng hữu cơ với âm nhạc gắn với đời sống ngoài tôn giáo.

3. Phối kết hợp với nhạc cụ đệm

Cũng như diễn xướng thanh nhạc truyền thống hay chuyên nghiệp ngoài tôn giáo, trong nghi lễ Cầu siêu nói riêng, các nghi lễ Phật giáo nói chung cũng có hai hình thức không nhạc đệm và hình thức có nhạc đệm. Trong tụng Kinh, trường hợp không nhạc đệm có trong hầu hết các bộ Kinh, nhưng với thời lượng ngắn. Ngay khi thực hiện khoá tụng Kinh A Di Đà trong lễ Thí thực, thì mở đầu của phần tụng không sử dụng nhạc cụ. Trong đoạn: “Nguyên thử hương yêu yên vân/ Biến mãn thập phương giới/ Vô biên Phật độ trung/ Vô lượng hương trang nghiêm/ Cụ túc Bồ Tát đạo/ Thành tự Như Lai hương (cúi đầu...)...” không sử dụng nhạc cụ. Tại phần mở đầu của khoa cúng này có tới ba đoạn tương tự như vậy không sử dụng nhạc cụ đệm. 

Tuy nhiên, phần lớn các tăng - ni tụng Kinh gắn liền với nhạc cụ đệm, ở đây là chuông và mõ. Mỗi từ trong Kinh sẽ trùng với một tiếng mõ; nhịp độ của người tụng nhanh hay chậm, giữa hai yếu tố này đều tỷ lệ thuận với nhau. Trong suốt quá trình hành lễ, chuông, mõ và lời của Kinh là một thể thống nhất, gắn kết chặt chẽ với nhau. Mở đầu của các khoa cúng hoặc buổi tụng Kinh, bao giờ các sư tăng cũng phải điểm những hồi chuông, tùy theo từng nghi thức. Kết thúc một hồi chuông, các tăng - ni bắt đầu tụng Kinh và đồng thời mõ cũng bắt đầu điểm. Mõ đóng giữ vai trò giữ nhịp, vừa với tư cách là một pháp khí, “vật thiêng”, đồng thời là khí nhạc đệm cho diễn xướng tụng Kinh (về mặt âm nhạc). Chuông cũng thể hiện vai trò riêng, là nhạc cụ có vai trò chấm câu, ngắt câu và, trong nhiều trường hợp, gần như chiếc trống trầu trong nghệ thuật Ca trù. Mở đầu, kết thúc một khoa cúng, hay mỗi khi tụng Kinh thì bao giờ người ta cũng rồn một hồi chuông. Các đoạn nhỏ của mỗi câu Kinh kết thúc thường được đánh dấu bằng một tiếng chuông báo hiệu. Như thế, chuông, mõ và từng tiếng Kinh cứ thế mà gắn kết chặt chẽ với nhau như xương với thịt không thể tách rời, tạo cho không gian thiêng của mỗi khoa cúng một sắc thái riêng và thêm uy nghi hơn. 

Riêng tán Canh, việc sử dụng nhạc cụ là một quy định bắt buộc. Các nhạc cụ dùng phổ biến trong tán Canh là các họ màng rung10 (trống lớn, trống bản), tự thân vang (chuông, mõ, thanh la, não bạt, tiu - cảnh), họ hơi có kèn, và họ dây có đàn nguyệt và đàn nhị. Theo đó, mõ và chuông giữ vai trò cầm trịch, giữ nhịp chính và được điều khiển bởi pháp chủ; nhị có chức năng đi giai điệu cùng với Canh; đàn nguyệt đi hoà thanh chiều ngang; kèn thường diễn tấu vào những đoạn lưu không, những điểm nghỉ dài; còn trống, thanh la và não bạt có chức năng tạo và giữ nhịp. Riêng cặp tiu - cảnh được coi là bộ khung xương, là điểm tựa tạo nên nét đặc trưng trong nghệ thuật tán Canh. Mối quan hệ giữa tán Canh và hai nhạc cụ này là quan hệ hữu cơ không thể tách rời. Người ta không bao giờ tán Canh khi không có hai nhạc cụ này đi cùng. Ngoài cặp tiu - cảnh, đôi khi chúng ta còn thấy người hành lễ sử dụng thêm cả hai chiếc trống lớn và trống bản để đánh theo nhịp của tiu - cảnh, tạo hiệu quả âm thanh và tạo không gian trang trọng hơn. Thông thường, trống luôn là nhạc cụ phụ thuộc vào cặp tiu - cảnh. Tuy nhiên, trống thường đệm theo âm luật thưa hơn, tiết tấu nhiều khi bị lược bớt đi và chủ yếu đệm vào trọng âm, thường là vào đầu của phách mạnh. Về loại nhịp, nhìn chung, sử dụng trong Canh nói riêng, trong các thể loại âm nhạc trong nghi lễ Phật giáo nói chung thống nhất sử dụng loại nhịp một. Trong những phần mở đầu và kết thúc tán Canh, người ta thường sử dụng các nhạc cụ trên để hòa tấu theo nhịp trống pháp lôi, trống dẫn lục cúng, trống thượng đường hoặc trống sai. 

Kệ không sử dụng nhạc cụ đệm theo, theo đó xếp vào hình thức không nhạc đệm. Nhạc cụ chỉ được diễn tấu trước khi các sư tăng, thầy cúng tiến hành đọc Kệ. 

Nếu như Canh, Kinh và Kệ được sử dụng đúng theo quy định bắt buộc, tức là  bắt buộc có hoặc không được sử dụng nhạc cụ đệm, thì trong Than có thể có hoặc không cần nhạc đệm, không bắt buộc. Nếu có nhạc cụ đi cùng thì thường là nhị, đàn nguyệt và trống ban để tạo và giữ nhịp. Lúc này, nhị sẽ kéo theo giai điệu của người Than, còn đàn nguyệt thì có chức năng đệm hoà sắc. Trống ít được sử dụng, bởi trên thực tế, Than là thể loại theo nhịp điệu tự do, không phân chia nhịp một cách rõ ràng. Nên người ta chỉ sử dụng trống vào những đoạn đổ dồn hoặt kết thúc mỗi phần Than. 

Như vậy, có thể thấy, Kinh, Canh, Kệ và Than sử dụng trong nghi lễ Cầu siêu được phổ biến với nhiều hình thức khác nhau, với những phương tiện trình tấu, đi cùng là những nhạc cụ được hoà tấu theo những nguyên tắc, quy định riêng. Những phương thức phổ biến này được nhìn nhận như một đối tượng nghiên cứu, chứa đựng nhiều giá trị thẩm mỹ và những khía cạnh khoa học có giá trị cần được đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu. 
*
*    *  
Những phân tích bước đầu về một số thể loại thanh nhạc đặc trưng, phổ biến trong đàn lễ Cầu siêu cho thấy, thanh nhạc đã thể hiện được sự phong phú về hình thức và độc đáo về thể loại. “Thanh nhạc” xuất hiện trong đàn lễ có vị trí quan trọng, có quy định bắt buộc trong nghi lễ Phật giáo, có quan hệ hữu cơ không thể tách rời với các bước lễ và khoa cúng trong quá trình hành lễ. Ngoài những thể loại diễn xướng trên đây, còn một số thể loại khác, như “đọc” các câu phát hỏa, thiết dĩ, thỉnh Phật, những câu niệm chú... mà chúng tôi còn chưa đề cập. Mặc dù, những phân tích trên đây còn chưa đi sâu về mặt âm nhạc học như thang âm, điệu thức hay cấu trúc câu đoạn để giải mã nét đặc trưng trong từng thể loại, nhưng với những khái quát trên, phần nào chúng tôi cũng đã diễn giải bước đầu những vấn đề cơ bản về đặc điểm của từng thể loại trong nghi lễ này. Chúng tôi sẽ dành một phần chuyên sâu để phân tích những đặc điểm âm nhạc trong những thể loại thanh nhạc trên ở một phần viết sau.
N.Đ.L
__________

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Lân, Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh - 2000
2. Lao Tử và Thịnh Lê, Từ điển Nho - Phật - Đạo, Nxb. Văn học, Hà Nội - 2001
3. Tạp chí Khuông Việt, số 1 (2007) và số 3 (2008)
4. Lưu hành nội bộ Nghĩa Mông son Văn tế cô hồn, Thầy cúng Bùi Văn Nam, thôn  Kiến Hạ, xã Kiến Hưng, Tp. Hà Đông cung cấp
5. Khóa tụng Kinh A Di Đà Thí thực (Lưu hành nội bộ), Tư liệu do Kỷ Khiêu Thích Thanh Phương, Chùa Đống Lim, Long Biên - Hà Nội cung cấp
6. Khoa Thỉnh Phật, Khoa Nhiếp Linh, Khoa Triệu Linh, Khoa Chúc thực, Khoa Phóng sinh - Thí thực, Tư liệu được cung cấp bởi Kỷ Khiêu Thích Thanh Phương, Chùa Đống Lim, Long Biên - Hà Nội
7. Tư liệu điền dã


* Bài do tác giả Nguyễn Đình Lâm gửi cho Nguyễn Xuân Diện - Blog. Bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 12/2008.