Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

Ngày ÂM NHẠC VN: NGÀY CỤ HỒ BẮT NHỊP BÀI NHẠC TÀU "KẾT ĐOÀN"

Ai cam tâm lấy bài “Đoàn kết” của Trung cộng
làm Ngày Âm nhạc Việt Nam hàng năm?

Việt Nam Thời báo
Giang Nam
23-08-2015

.
 .
(VNTB) – Chọn Ngày âm nhạc Việt Nam, vì sao cũng phải cố ý tìm kiếm lý do gì đó gắn với tên tuổi HCM? Tiếc thay, lợi bất cập hại, Hội nhạc sĩ lại đi chọn bài ca Trung Quốc làm cơ sở.

Mấy tháng nay hiện tượng cố ý đưa biểu tượng Trung cộng chen lấn nền văn hóa Việt Nam đã thành xâu chuỗi. Bản nhạc “Ca xướng tổ quốc” của Trung cộng đưa vào buổi lễ “Khát vọng đoàn tụ” đưa chân Chủ tịch nước lên bục phát biểu đã bị phanh phui.


Chuẩn bị đại lễ quốc khánh 2/9 ai đã mua hàng nghìn chậu hoa hồng môn từ tỉnh Hồ Nam đưa về trồng quanh Bờ Hồ Hà Nội? Bằng chứng là các vỏ thùng hoa nguyên chữ Tàu ghi địa chỉ nơi trồng hoa. (Tiếc rằng báo Dân Trí chỉ phỏng vấn qua loa, không đi đến cùng điều tra vụ việc (?!). Hội chợ quốc tế Expo Milan 2015 ở Ý trưng bày áo xống kiểu Tàu trong Ngôi nhà Việt Nam. Đường ống nước mua của Tàu dẫn nước cho Hà Nội vỡ đến lần thứ 11 khiến dân HN đang sống dở chết dở vì mất nước giữa muà hè nóng bức…

Và, đây nữa, Ngày âm nhạc Việt Nam 3/9 được chọn trên cơ sở ngày Bác Hồ ngẫu hứng cầm que bắt nhịp bài hát “Kết Đoàn” (của Trung cộng) ở công viên Bách thảo Hà Nội.

Hội nhạc sĩ bắt chước Ngày Thơ Việt Nam do Hội nhà văn tổ chức tại Văn Miếu đêm Rằm tháng Giêng. Hội nhà văn đã chọn bài thơ Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh viết thời chống Pháp làm biểu tượng. “Nguyên tiêu” tức Đêm rằm tháng Giêng, vì thế Rằm tháng giêng hàng năm trở thành Ngày thơ Việt Nam. Vì sao không chọn ngày sinh thi hào Nguyễn Du làm Ngày thơ Việt Nam mà tôi tin chắc hẳn người VN nào cũng tâm phục khẩu phục?

Lý do chọn ngày âm nhạc Việt Nam được thông báo trên Bản tin chính phủ sau đây:

Cổng điện tử chính phủ (Chinhphu.vn) – Thủ tướng Chính phủ vừa đồng ý lấy ngày 3/9 hằng năm là “Ngày Âm nhạc Việt Nam”. Ngày 3/9/1960 là ngày Bác Hồ chỉ huy dàn nhạc hợp xướng và quần chúng nhân dân hát bài ca “Kết đoàn” tại Công viên Bách thảo Hà Nội, nhân dịp chào mừng Đại hội Đảng lần III năm 1960. Từ sự kiện ý nghĩa đó, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý đề xuất của Hội Nhạc sỹ Việt Nam lấy ngày 3/9 hằng năm là Ngày Âm nhạc Việt Nam.

Ngày âm nhạc VN lần đầu tiên được tổ chức là 3/9/2010.

Bài hát “Kết Đoàn” nói trên nguyên văn Hán ngữ phiên âm là “Đoàn kết tựu thị lực lượng”, lời Mục Hồng, nhạc Lư Túc, sáng tác năm 1943 ở Trung Quốc (* [1]). Dịch giả người Việt khuyết danh đã dịch “Đoàn kết chính là sức mạnh”. Khi truyền miệng thường gọi tắt là “Kết đoàn”. Bài hát gần nguyên vẹn ca từ tiếng Trung, chỉ sửa câu chót Trung văn phiên dịch là: Hướng về mặt trời, hướng về tự do, hướng về nước Trung Quốc Mới, phát xuất ánh sáng xa vạn dặm” thay bằng câu“Tiến tiến mau mau kìa tự do đang reo bừng trong ánh dương, xây đời mới trong dân chủ mới!”. Nguyên cả bài hát chỉ sửa lời một câu, còn lại giữ nguyên của Tàu thì sao có thể gọi là bài hát Việt?

Như vậy, Hội nhạc sĩ đã lấy bài hát Trung Quốc làm cơ sở cho “Ngày âm nhạc Việt Nam” từ năm 2010. Dư luận ngay từ hồi ấy đã phàn nàn thắc mắc, nhưng Thủ tướng vẫn cứ chấp nhận đề xuất của NS Đỗ Hồng Quân.

Cứ cho rằng, trong kháng chiến chống Pháp quơ quào bất cứ vũ khí gì chống giặc là được, bất kể của ai, xá chi một bài hát. Nhưng ngày nay, bình tâm nhìn lại, chọn một ngày âm nhạc Việt Nam sao lại máy móc, câu nệ, phải chọn bài hát Tàu làm cột mốc đánh dấu lịch sử âm nhạc dân tộc – như thế khiên cưỡng quá chăng ?

Sự vong bản của Hội nhạc sĩ Việt Nam công khai hàng năm được Thủ tướng duyệt, sự kiện đó thực hiện từ 2010 đến nay đã 4 kỳ tổ chức rồi. (Năm nay chưa nghe công bố chương trình).

Âm nhạc truyền thống VN rất phong phú, đa dạng.

UNESCO đã công nhận các Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam sau đây:

Hát quan họ Bắc Ninh.
Hát ca trù.
Hát xoan Phú Thọ.
Hát ví giặm Nghệ Tĩnh.
Nhạc cung đình Huế.
Đờn ca tài tử Nam Bộ…


Chưa kể tân nhạc Việt Nam phát triển rất mạnh từ đầu thế kỷ 20.

Chọn một cơ sở nào đó để làm ngày Âm nhạc Việt Nam tưởng cũng không quá khó.

Kết

Cái gì gắn với tên tuổi Hồ Chí Minh đều chứa sự bí ẩn. Bác ưa thích bài hát gì cũng phức tạp đến vậy sao?

Tôi dự đoán theo kiểu trung dung cho chắc ăn: có thể, sinh thời Bác thích cả bài hát TQ và dân ca Việt Nam, thì cũng là điều bình thường. Vấn đề là ở chỗ người ta chỉ muốn lợi dụng mập mờ tuyên truyền, vụ lợi chính trị, muốn tô son điểm phấn thật đậm lên thần tượng chính trị, càng nhiều càng tốt. Điều đó rất non tay, vì khi bị lộ thì công cốc hết!

Chọn Ngày âm nhạc Việt Nam, vì sao cũng phải cố ý tìm kiếm lý do gì đó gắn với tên tuổi HCM? Tiếc thay, lợi bất cập hại, Hội nhạc sĩ lại đi chọn bài ca Trung Quốc làm cơ sở. Có lẽ, Hội nhạc sĩ muốn lập công hay là muốn cho việc xét duyệt qua Ban tuyên giáo được êm xuôi đỡ bị kỳ đà cản mũi ?!

Cảnh báo các Hội khác như Hội nghệ sĩ tạo hình VN (Hội mỹ thuật), Hội sân khấu, Hội điện ảnh.v.v… chuẩn bị tìm lý do gì gắn với cụ HCM làm đề cương đề xuất dần đi là vừa.

***
Ghi chú: “Kết đoàn” được coi là bài hát tập thể toàn miền Bắc từ sau 1954 đến đầu 1961, khi bài hát “Giải phóng miền Nam” do Lưu Hữu Phước viết năm 1961 thay thế thì thôi “Kết đoàn”. (từ tháng 5.1975 thì “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” của Phạm Tuyên thay thế, và sau 1986 thì “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn được dân chúng tự phát thay chỗ đến nay. Kế đó lan dần đến các hội nghị, giao lưu của tổ chức cũng “Nối vòng…”)

***
Phụ lục (nguyên tác bài Kết đoàn của TQ)
团结就是力量
(Đoàn kết tựu thị lực lượng)

团结就是力量
这力量是铁这力量是钢
比铁还硬比钢还强
向着法西斯蒂开火
让一切不民主的制度死亡
向着太阳向着自由
向着新中国发出万丈光芒

(GN sưu tầm trên mạng Trung Quốc, nguồn: http://baike.baidu.com/subview/252130/15416875.htm)


[1] . Về xuất xứ bài hát “Kết đoàn” báo Quân đội nhân dân đã thừa nhận (nguồn: QĐND – Thứ Sáu, 23/05/2008, 21:11 (GMT+7)


Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

QUYẾT XÂY TƯỢNG ĐÀI, DÀN LÃNH ĐẠO TỈNH SƠN LA MÒ VÀO GIA LAI


Các ông Hoàng Văn Chất - Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh và Cầm Ngọc Minh - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La vừa mò vào tận Gia Lai để "trao đổi học hỏi kinh nghiệm với lãnh đạo tỉnh Gia Lai" về việc dựng tượng cố chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc cho tiếng kêu thảm thiết khắp gầm trời  yêu cầu các ông hủy dự án điên khùng này, lấy tiền đó lo cho dân nghèo. Thái độ vô cảm với đồng bào, đồng loại của giới chức tỉnh nghèo đói Sơn La thật là khủng khiếp!

Sơn La đến Gia Lai 
học kinh nghiệm xây tượng đài Bác
 
22/08/2015 17:26 GMT+7

TTO - Ngày 22-8, UBND tỉnh Gia Lai cho biết đã tổ chức cuộc họp với đoàn công tác của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Sơn La vào học tập, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng công trình tượng đài Bác Hồ. 


Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây nguyên - Ảnh tư liệu

Chuyến làm việc của lãnh đạo tỉnh Sơn La diễn ra sau khi dự án xây dựng quần thể tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Bắc có tổng mức đầu tư 1.400 tỉ đồng được HĐND tỉnh này thông qua nhưng bị dư luận phản ứng gay gắt.

Theo một lãnh đạo tỉnh Gia Lai, tại buổi làm việc đại diện tỉnh Sơn La cho biết dự án xây dựng tượng đài Bác Hồ gắn với các dân tộc Tây Bắc là công trình quan trọng, phản ánh tâm tư nguyện vọng của đồng bào các dân tộc Tây Bắc với Bác Hồ. Tuy nhiên dự án này sau khi được HĐND tỉnh thông qua đã vấp phải nhiều phản ứng trái ngược của dư luận. Tỉnh Sơn La đã quyết định tổ chức đoàn công tác với sự tham gia của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đến các địa phương để mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm về lập dự án, kinh nghiệm xây dựng…

Tại buổi làm việc, đại diện Tỉnh ủy Gia Lai cho biết công trình tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây nguyên đặt tại trung tâm TP Pleiku là công trình mang ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây còn là điểm tham quan, tổ chức các ngày lễ quan trọng và trở thành điểm nhấn du lịch của tỉnh Gia Lai.

Công trình được xây dựng từ năm 2010-2012 với nhiều hạng mục trong tổng diện tích hơn 12ha đặt tại trung tâm TP Pleiku.

Quá trình xây dựng, bên cạnh sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, các bộ ngành, tỉnh Gia Lai đã phối hợp lắng nghe ý kiến nhiều chiều của các cơ quan chuyên môn, quần chúng nhân dân để tiến hành xây dựng tượng đài.

Tỉnh Gia Lai cũng chia sẻ kinh nghiệm về việc lập dự án, cần tách bạch công trình tượng đài Bác Hồ với các dự án khác để giảm kinh phí, tập trung tối đa cho từng hạng mục để đạt hiệu quả tốt nhất.

T.B.DŨNG 
------------
Báo Gia Lai đưa tin:
Lãnh đạo tỉnh làm việc với đoàn công tác tỉnh Sơn La
Thứ Sáu, 21/08/2015, 08:20 [GMT+7]
.
(GLO)- Để chuẩn bị cho việc xây dựng tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Bắc gắn với Quảng trường Sơn La, chiều 19-8, đoàn công tác tỉnh Sơn La gồm các đồng chí: Hoàng Văn Chất-Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh và Cầm Ngọc Minh-Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã đến thăm, trao đổi học hỏi kinh nghiệm với lãnh đạo tỉnh Gia Lai. Làm việc với đoàn lãnh đạo tỉnh Sơn La có Phó Bí thư Tỉnh ủy Dương Văn Trang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kpă Thuyên cùng lãnh đạo một số sở, ngành liên quan.

.
Ảnh: Hoàng Ngọc

Tại buổi làm việc, lãnh đạo tỉnh Gia Lai thông báo với đoàn công tác tỉnh Sơn La một số kinh nghiệm trong quá trình xây dựng tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên. Theo đó, để hoàn thành công trình có ý nghĩa này, bên cạnh sự chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng-Nhà nước, tỉnh Gia Lai đã vận dụng linh hoạt các giải pháp, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong khâu xây dựng. Trong mỗi giai đoạn thực hiện, tỉnh thường xuyên tổ chức hội thảo, lắng nghe ý kiến các chuyên gia đầu ngành về điêu khắc, mỹ thuật, kiến trúc… cùng tâm tư nguyện vọng của nhân dân các dân tộc đóng góp để xây dựng tượng đài và quần thể công trình đạt thẩm mỹ và chất lượng tốt nhất.

Bí thư Tỉnh ủy Sơn La Hoàng Văn Chất cho rằng, đây là những kinh nghiệm quý báu, làm tiền đề quan trọng để tỉnh Sơn La hoàn chỉnh các thủ tục, quy trình để sớm khởi công xây dựng tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Bắc gắn với quảng trường Sơn La, đáp ứng sự mong mỏi của nhân dân các dân tộc Tây Bắc.


Hoàng Ngọc

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

NGUYỄN HỮU ĐANG - MỘT CUỘC ĐỜI, MỘT TẤN BI KỊCH LỚN

Nhân kỷ niệm 101 năm ngày sinh Nguyễn Hữu Đang 
(15/8/1913-15/8/2014) 

Thưa chư vị, Hôm nay 15.8.2014, tròn 101 năm ngày sinh của Nhà văn hóa Nguyễn Hữu Đang (1913-2007). Ông là một nhà báo, một trong những người sáng lập nên Hội truyền Bá Quốc ngữ, là thứ trưởng Bộ Thanh Niên và là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh và Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân. Ông cũng bị kết án 15 năm tù trong vụ án Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm.

Nguyễn Hữu Đang là một người cương trực, thẳng thắn, một nhà hoạt động chính trị, văn hoá nổi tiếng và là một nhân cách lớn. Mặc dù bị oan khuất gần 30 năm, nhưng trong những tác phẩm của ông, người ta không thấy sự oán giận mà chỉ thấy sự khoan dung, nhân hậu, lòng tin vào tương lai của đất nước, dân tộc. (Theo Wikipedia)

Nguyễn Hữu Đang là một ông tiên bị đày xuống trần gian đầy cực nhọc trong khoảng gần 100 năm mà một số người trong chúng ta may mắn hạnh ngộ. Tưởng nhớ Ông, xin thắp nén tâm hương bái vọng và trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Lê Thọ Bình để chia sẻ cùng chư vị.  - Lâm Khang chủ nhân.
____________________

Nguyễn Hữu Đang: một bi kịch lớn 

Lê Thọ Bình 

Đang nắm giữ những chức vụ và đảm nhiệm những công việc rất quan trọng của chính quyền: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền, Thứ trưởng Bộ Thanh niên, được giao nhiệm vụ tổ chức ngày Lễ Độc lập (2-9), ông như con đại bàng đang bay cao. Nhưng rồi cái tư tưởng phóng khoáng, tự do của một chú đại bàng “hoang dã” muốn đưa đồng loại của mình tới khoảng trời bay nhảy tự do đã khiến ông rơi từ “trời cao” xuống vực thẳm, để lại cho nhân gian những câu chuyện thật đau lòng bằng một vụ án văn chương mà người ta gọi là “Nhân văn Giai phẩm”.

Vâng, ông là Nguyễn Hữu Đang, người được coi là “Lãnh tụ tinh thần” của “Nhân văn Giai phẩm”. 

Hành trình bài bút ký 

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Hữu Đang là mùa hè năm 1993, khi ông vừa lên Hà Nội cư trú sau gần 20 năm bị quản thúc tại Thái Bình, quê ông.

Hôm ấy tôi đang làm việc ở Văn phòng cơ quan thì một cụ già vận chiếc quần bộ đội bạc phếch, áo sơ mi cộc tay trắng đã ố vàng bỏ ngoài quần, đi dép cao su 3 quai, đầu đội chiếc mũ lá tuềnh toàng. Tôi đã nghĩ “Lại cụ nông dân đi kiện về đất đai” và chào ông. Ông cởi chiếc mũ lá. Đầu trọc lốc. Ông không chào, cũng chẳng đáp lời tôi, hỏi cộc lốc: “Các ông có biết tôi là ai không?”. Tôi lắc đầu. Ông nhăn mặt: “Tôi là Nguyễn Hữu Đang vừa ở tù 15 năm và quản thúc 20 năm đây!”. Tôi hết sức ngạc nhiên. Không, phải nói là sửng sốt thì đúng hơn. Nguyễn Hữu Đang, Lãnh tụ tinh thần của “Nhân văn Giai phẩm” đây sao!

Thú thực, ban đầu tôi không thực sự ấn tượng vì cách nói chuyện theo kiểu không đầu không cuối của ông. Đầu hơi cúi gằm. Thỉnh thoảng lại lấm lét ngước mắt lên nhìn người nghe. Tuy nhiên, ông lại có chất giọng hào sảng, âm thanh rất vang. Cuối buổi trò chuyện ông rút trong chiếc bị cói ra tập bản thảo bút ký 15 trang giấy viết tay kể về “Tổ chức Ngày Lễ Độc lập năm 1945”. Nét chữ của ông nắn nót, tròn, đều tăm tắp. Tôi cảm ơn ông và hứa sẽ tìm cách đăng cho ông.

Tôi đã kỳ công biên tập ngắn gọn lại thành một bài viết 1.500 chữ và gửi cho báo Tuổi trẻ Chủ nhật (nay là Tuổi trẻ cuối tuần) để đăng nhân dịp Quốc khánh, 2-9. Tuổi trẻ trả lời không đăng được. Tôi đã gửi đi tới cả chục báo, tạp chí như Đại đoàn kết, Lao động, Phụ nữ TP.HCM, tạp chí Thế giới mới, Kiến thức ngày nay… nhưng tiếc rằng không báo nào “dám đăng”.

Đó là điều mà tôi đã tiên liệu trước: Ai dám đăng bài viết mà tác giả của nó là “Lãnh tụ tinh thần” của Nhóm “Nhân văn Giai phẩm”. Tuy nghĩ là vậy, nhưng tôi vẫn hy vọng vào lòng quả cảm của một Tổng biên tập nào đó, vì thực ra ngay từ năm 1989 ông đã được "phục hồi", năm 1990 đã được trả lương hưu và năm 1993 đã được về sống tại Thủ đô.

Tôi như người “mắc nợ” với ông, mặc dù khi đưa tập bản thảo cho tôi ông đã bảo: “May ra có Tuổi trẻ dám đăng”. Sau đấy năm nào cũng vậy, cứ đến dịp Quốc khánh tôi lại gửi đến một vài báo khác nhau. Và vẫn câu trả lời: “Không đăng được”. Tôi luôn nặng trĩu trong lòng và vì “món nợ” ấy mà đã nhiều năm liền không dám tìm gặp ông.

6 năm sau, năm 1999, tôi về làm việc tại Báo Nông thôn ngày nay. Vì là người được chị Mai Nhung, Tổng biên tập giao nhiệm vụ Tòa soạn, biên tập, duyệt đăng bài, nên tôi đã bê nguyên xi bản thảo ông Đang viết đăng 4 kỳ ở chân trang. Sau khi báo phát hành nhận được rất nhiều lời khen ngợi. Thậm chí ông Vũ Duy Thông, lúc ấy là Vụ trưởng báo chí Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) biểu dương. Thì ra lâu nay toàn sợ bóng sợ gió cả.

Phần vì bận nhiều công việc, phần không tìm được ra nhà ông Nguyễn Hữu Đang, nên tôi đã không chuyển nhuận bút bài báo cho ông được. Mãi tới năm 2004 tôi mới tìm ra được căn hộ ông ở tít mãi tận Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy, Hà Nội) lúc ấy còn rất hoang vắng. Như vậy là sau 6 năm, kể từ khi ông đưa cho tôi, bài Bút ký mới được đăng và sau 5 năm nữa món nhuận bút mới được chuyển đến tay ông. 

Ở căn hộ khu tập thể Nghĩa Đô 

Sau nhiều lần tìm kiếm rồi cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra nơi ông ở. Tôi và nhà báo Lương Thị Bích Ngọc chui qua cầu thang ẩm ướt, tối mò, lên tầng 2 dãy nhà Tập thể Bột mì (Nghĩa Đô) gõ cửa nhà ông. Chừng 5 phút sau ông Đang ra mở cửa. Căn phòng nhỏ, bộn bề, đặc mùi ẩm mốc. Ông đã bước sang tuổi 90, cơm nước phải nhờ đến một người cháu tới giúp, song những hoạt động trí tuệ thì ai có thể thay thế được cho con người vốn có tinh thần độc lập từ xưa – kể từ khi ông bị thực dân Pháp bắt tra tấn và suýt đưa ra tòa lúc còn là vị thành niên?

Ngồi ở chiếc bàn nhỏ vừa để ăn vừa để đọc sách của ông, nhìn quanh trên tường và trên bàn có nhiều tấm ảnh chân dung chắc chắn là rất thân thiết với ông; và đập ngay vào mắt chúng tôi là tấm ảnh lịch sử: Lễ đài Ba Đình 2-9-1945 được cho vào khung ảnh cẩn thận kê ngay ngắn trên một chiếc vỏ hộp bánh quy. Chiếc bàn kê sát giá sách để chiếc điện thoại bàn lấm bụi, chiếc kính lúp, cái đèn pin, mấy cục pin con thỏ để lăn lóc.

Cuộc đời có thể tước đoạt của ông nhiều thứ song không thể tước đi quyền tự hào là người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho trọng trách tổ chức ngày lễ Độc lập ở Ba Đình, và tới năm 1947, ông vẫn còn được coi là nhân vật quan trọng nhất nhì bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mái đầu húi cua bạc cháy tựa nương cằn miền núi sau trận cháy rừng giờ không còn ngẩng cao kiêu hãnh mà hơi cúi gằm bởi năm tháng, nhưng cái vóc dáng cồng kềnh và chắc chắn của ông vẫn cho thấy một nghị lực sống được nén lại, và đôi lúc ánh mắt ông vô tình vẫn lóe lên những luồng ánh sáng trí tuệ.

Nhìn ông, ai có thể tin rằng: Sau mười lăm năm tù đày, ở tuổi 63, ông đã từng phải sống nhờ vào côn trùng và cóc - nhái - chuột - rắn trong suốt hơn mười lăm năm vất vưởng bên lề xã hội ở một làng quê Thái Bình… Trải qua quá nhiều nỗi đớn đau thử thách, và ở giai đoạn cuối cuộc đời vẫn phải lo tránh cạm bẫy, ông phải tự giữ gìn và giữ cho cả người đang đối thoại với mình mà bằng trực giác ông biết là lòng lành, song dường như ông vẫn không bị mất đi sự sắc sảo pha chút hóm hỉnh.

Thấy mấy cuốn sách, vài ba tờ báo vứt lỏng chỏng trên bàn, trên giường, tôi hỏi ông: “Lâu nay bác vẫn nhận được sách báo đều chứ ạ?”. Ông không nói gì, chậm chạp, run rẩy đứng dậy khỏi giường, chậm rãi bước tới cái giá sách nhỏ ở góc nhà lục tìm cái gì đó. Nhìn dáng ông đi liêu xiêu, mảng lưng hở qua chiếc áo bở tã đến thê thảm. Ông lúi húi bên giá sách cạnh tấm ảnh đen trắng Dostoievski chợt nhòe đi. Bên dưới tấm ảnh văn hào Nga được nhiều thế hệ độc giả Việt yêu quý là chiếc tủ lạnh cũ. Bất giác tôi đứng lên, bước tới chiếc tủ lạnh, tự động mở ra: cả hai ngăn trên và dưới đều trống rỗng! Ông Đang không hề để ý tới việc khách mở tủ lạnh và quan sát đồ dùng sinh hoạt trong phòng ông. Ông rời giá sách trên tay cầm theo cuốn sách dày cộp. Ông giở bìa cuốn từ điển Bách khoa Petit Larousse in năm 2.000 ra, chỉ tay vào trang đầu tiên có chữ nắn nót của ông: “Mất từ tr. 865 đến tr. 968″. Rồi ông vội vã mở cuốn sách ra để chứng minh điều mình đã thông báo. Tôi hỏi ông: “100 trang sách đã bị xé. Ai đã xé những trang này hở bác?”. Ông thở dài: “Còn ai vào đây nữa!”. Ông nói nhỏ dường như chỉ để cho mình ông nghe: “Những người có trách nhiệm kiểm soát trước khi chuyển nó đến cho tôi. Còn những mục gì ư? Chỉ là những thứ mà theo người ta, sẽ đầu độc một lão già vô hại là tôi!”.

Câu cuối ông nói ra vừa có gì giễu cợt lại vừa đượm nước mắt. Một công trình văn hóa hoàn hảo, một trong những biểu tượng của trí tuệ nhân loại bị phá hoại bởi những người quen thói bao cấp tư tưởng, quen hăng hái săn sóc tâm hồn và tri thức cho người khác – kể cả với những người đương nhiên là bậc thầy về văn hóa của họ! Thực là một tấn bi hài kịch không đáng có, vậy mà đã nó diễn ra thường xuyên như thứ một tập quán ghê sợ! 

Nguyễn Hữu Đang: ông là ai? 

Nguyễn Hữu Đang sinh ngày 15/8/1913 tại làng Trà Vy, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình. Theo bản "Tóm tắt quá trình hoạt động xã hội của Nguyễn Hữu Đang" do chính tay ông viết thì năm mười sáu tuổi, ông tham gia Học sinh hội (tổ chức thuộc Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, rồi Đông dương Cộng sản đảng), làm tổ trưởng Hội này. Ngay từ năm 1929 Nguyễn Hữu Đang đã là đối tượng được kết nạp vào đảng. Cuối năm 1930, ông bị bắt, bị tra tấn và bị giam 2 tháng rưỡi tại nhà lao thị xã Thái Bình. Mùa hè năm 1931, bị đưa ra toà, nhưng vì tuổi vị thành niên (trên giấy tờ, ông rút tuổi, khai sinh năm 1916), cho nên chỉ bị quản thúc tại quê nhà. Từ 1932 đến 1936, Nguyễn Hữu Đang theo học Trường Sư phạm Hà Nội.

 Thủ bút Nguyễn Hữu Đang. Nguồn: Diễn Đàn.org

Năm 1937-1939 ông tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương. Biên tập các báo của Mặt trận như Thời báo (cùng Trần Huy Liệu, Nguyễn Đức Kính), Ngày mới (cùng Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Đức Kính) và các báo của Đảng Cộng sản như Tin tức (cùng Trần Huy Liệu, Phan Bôi), Đời nay (cùng Đặng Xuân Khu tức Trường Chinh, Trần Huy Liệu).

Từ 1938 đến 1945, Nguyễn Hữu Đang hoạt động trong Hội Truyền bá Quốc ngữ, ở các vị trí: Uỷ viên Ban trị sự Trung ương, Huấn luyện viên Trung ương, Trưởng ban Dạy học, Trưởng Ban Cổ động, Phó trưởng Ban Liên lạc các chi nhánh tỉnh.

Năm 1943 Nguyễn Hữu Đang gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, bắt đầu liên lạc mật thiết với Tổng bí thư Trường Chinh và Thành ủy Hà Nội, nhưng vẫn chưa được chính thức kết nạp vào Đảng.

Năm 1943-46 ông tham gia sáng lập và lãnh đạo Hội Văn hoá Cứu quốc, tiếp tục hoạt động chống nạn mù chữ. Mùa thu năm 1944 bị Pháp bắt ở Hà Nội và bị giam một tháng tại Nam Định. Được ra, lại tiếp tục hoạt động cách mạng.

Tháng 8-1945 ông tham dự Đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban Giải phóng dân tộc. Tham gia Chính phủ lâm thời mở rộng, được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Truyên truyền. Đồng thời cũng trong năm đó ông được Hồ Chí Minh cử làm Trưởng ban Tổ chức Ngày lễ tuyên bố độc lập 2-9-1945.

Từ tháng 10-1945 đến tháng 12-1946 ông giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Thanh niên, Chủ tịch Ủy ban vận động Mặt trận văn hoá. Tổ chức Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội.

Từ tháng 12-1946 đến tháng 3-1948 ông làm Trưởng Ban Tuyên truyền xung phong trung ương.

Năm 1947, ông chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ tháng 4-1948, đến tháng 4-49, ông phụ trách báo Toàn dân kháng chiến, cơ quan trung ương của Mặt Trận Liên Việt.

Từ tháng 7-1949 đến tháng 10-1954 Nguyễn Hữu Đang làm Trưởng ban Thanh tra Nha Bình dân học vụ. Từ tháng 11-1954 đến tháng 4-1958 ông tổ chức và biên tập báo Văn Nghệ. Cuối năm 1956 đầu năm 1957 Nguyễn Hữu Đang tổ chức, lãnh đạo và biên tập báo Nhân văn, giúp đỡ tập san Giai phẩm. 

Phong trào “Nhân văn Giai phẩm” 

Nguyễn Hữu Đang chính thức tham gia hoạt động phong trào Nhân văn Giai phẩm từ tháng 9-1956, với sự ra đời của báo Nhân văn số 1 (20-9-1956). Báo Nhân văn ra được 5 số và đến số thứ 6 chưa kịp phát hành đã bị đình bản (tháng 12-1956).

Trong thời gian tổ chức và tham gia phong trào “Nhân văn Giai phẩm”, Nguyễn Hữu Đang tổ chức lớp học tập dân chủ 18 ngày (từ ngày 8-8 đến 26-8-1956) và trong ngày cuối cùng, ông đã đọc một bài tham luận "nảy lửa" chỉ trích những sai lầm trong công tác lãnh đạo văn nghệ. Trương Tửu đánh giá bài tham luận của Nguyễn Hữu Đang là "sự việc thực là cụ thể, lời lẽ thực là tha thiết". Hoàng Cầm cho rằng tinh thần nêu những thắc mắc, có từ kháng chiến, tích tụ lại và bùng nổ lên trong lớp học này.

Nhà văn Lê Đạt sau này kể lại: "Trong cuộc học tập này, anh em phê phán văn nghệ rất nhiều, trong đó nổi bật lên vai trò của anh Nguyễn Hữu Ðang. Lúc đó Ðang có nói một câu với Nguyễn Ðình Thi (Nguyễn Ðình Thi lúc ấy là một trong những người chịu trách nhiệm tờ Văn nghệ – VN) rằng: "Thế nào tao cũng ra một tờ báo, tờ báo chưa biết tên là gì, tao thì không làm được nhưng để cho bọn Giai phẩm Mùa xuân nó làm".

Còn Nguyễn Huy Tưởng ghi lại không khí lớp học 18 ngày, trong nhật ký của mình như sau: "Nguyễn Hữu Đang nổi lên. Tiếc rằng kéo anh ta về văn nghệ để làm rầy rà mình. Chính người chửi mình nhất là Nguyễn Hữu Đang". Những bực mình và dằn vặt của Nguyễn Huy Tưởng, càng làm rõ tấm lòng và nhân cách của ông: Mặc dù không đồng ý với Nguyễn Hữu Đang, bị Đang chỉ trích nặng nề, nhưng sau này, ông là người duy nhất trong Ban lãnh đạo văn nghệ đã đứng ra bênh vực Nhân văn, như Lê Đạt từng thuật lại và ông cũng ghi trong nhật ký: “đã phản ảnh lên Trường Chinh về vụ Nhân văn, nhưng vô hiệu”.

Về phía buộc tội, Nguyễn Hữu Đang được coi là lãnh tụ, "đầu sỏ". Mạnh Phú Tư viết: “Người ta không thấy tên tuổi Nguyễn Hữu Đang trên những số đầu báo Nhân văn, nhưng chính hắn là linh hồn của tờ báo. Thông qua tờ báo Nhân văn, hắn đã trở thành một thứ lãnh tụ của một bọn người cơ hội, có âm mưu chính trị... ".

Thực vậy, là người làm chính trị, Nguyễn Hữu Đang, với tài tổ chức và hùng biện trong lớp học 18 ngày, ông đã chiếm được lòng tin của giới trí thức và văn nghệ sĩ cấp tiến. Ông nắm lấy cơ hội, đứng ra tổ chức “Nhân văn Giai phẩm” với những người bạn cùng chí hướng từ trong kháng chiến như Trương Tửu, Trần Thiếu Bảo, Lê Đạt, Hoàng Cầm… chủ trương tạp chí “Giai phẩm mùa xuân”.

Tuy không có nhiều bài ký tên thật, nhưng dấu ấn của Nguyễn Hữu Đang trên báo Nhân văn là hết sức đậm nét bằng hàng loạt bài phỏng vấn các tên tuổi lớn như Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Đặng Văn Ngữ về vấn đề dân chủ.

Sau này Nguyễn Hữu Đang nói: “Thực chất phong trào “Nhân văn Giai phẩm”, nếu đứng về mặt chính trị, thì đó là một cuộc đấu tranh của một số người trí thức, văn nghệ sĩ và một số đảng viên về chính trị nữa, là chống, không phải chống đảng cộng sản, mà là chống chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Statline và chủ nghĩa Mao đưa đến nhiều hiện tượng cực quyền toàn trị. Nó gay gắt ghê lắm! Chúng ta đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu, v.v. Tất cả những chính sách quá tả đó là đều từ phương Bắc xâm nhập vào Việt Nam”.

Tháng 4-1958 Nguyễn Hữu Đang bị bắt. Ngày 19-1-1960, ông bị đưa ra toà cùng với Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại, và Lê Nguyên Chí.

Sau này Nguyễn Hữu Đang nhớ lại: “Ở trước tòa án thì tôi nhận mấy điểm như thế này: (1). Tôi có phạm kỷ luật của Ðảng và của nhà nước về phương diện tuyên truyền. (2). Trong việc làm của tôi, cũng có những vụ sai sót. Anh em cũng như tôi thôi, thế nhưng tôi gánh trách nhiệm nặng hơn. (3). Ðộng cơ thì nhất định là tốt: Chúng tôi chỉ vì dân, vì nước mà tin rằng việc mình làm có ích nước lợi dân cho nên làm thôi”.

Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên: Nguyễn Hữu Đang và Thụy An: 15 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân sau khi ra tù; Minh Đức: 10 năm phạt giam và 5 năm mất quyền công dân; Phan Tại: 6 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân; Lê Nguyên Chí: 5 năm phạt giam và 3 năm mất quyền công dân.

Sau này có lần Nguyễn Hữu Đang nói: “Ra tòa tôi nhận hết, chứ tôi không bào chữa, không cãi cọ gì nhiều cả. Thậm chí là sau khi bị kết án 15 năm tù tôi cũng không có ký chống án gì cả. Từ bấy giờ đến nay tôi cũng không viết một cái đơn nào để thanh minh, phân trần, xin xỏ, khoan hồng hay là nọ kia. Không! Cái việc đó không!”. 

Có thật là Nguyễn Hữu Đang tìm cách trốn vào Nam? 

Thông tin thời bấy giờ và cả sau này nữa đều cho rằng Nguyễn Hữu Đang bị bắt khi ông đang trên đường trốn vào Nam. Tuy nhiên sự thật có phải như vậy không? Chúng ta hãy nghe chính Nguyễn Hữu Đang sau này kể lại: “Tôi muốn ra nước ngoài, chứ không phải vào Nam, nhưng tôi đã đặt điều kiện: Nếu các anh giúp tôi đi ra một nước khác, tôi chấp nhận, nhưng vào Nam thì tôi từ chối, vì như thế hàm chứa cái ý phản bội, chạy sang phe địch, phe thù. Đó là một sự nhục nhã. Vào Nam? – Để làm gì chứ? Vào Nam làm gì với Ngô Đình Diệm? Nhưng tôi thực sự muốn ra nước ngoài – tôi đã nói thẳng với Trường Chinh trong một cuộc gặp giữa ông ấy và tôi. Câu hỏi thứ nhất mà Trường Chinh vừa cười vừa đặt ra cho tôi là: “Hả, sao kia, anh đã tuyên bố với các đồng chí rằng anh muốn ra nước ngoài, vì không khí trong nước nghẹt thở quá. Vậy là anh muốn ra nước ngoài, nhưng đến một nước trong phe xã hội chủ nghĩa hay phe đế quốc, anh nói tôi nghe”. Ông ta cười. Lúc đó tôi vừa cười vừa trả lời: “Tôi rất muốn ra nước ngoài, một nước trong phe xã hội chủ nghĩa nếu điều kiện cho phép. Nhưng nếu vì những khó khăn buộc tôi phải đến một nước theo chế độ tư bản, tôi có thể chấp nhận. Bằng chứng là Hồ Chí Minh đã cư trú ở Pháp, và ông đã giữ được lòng yêu nước và tinh thần cách mạng, và tôi có thể làm như ông ấy. Tôi nghĩ rằng tôi có thể làm như Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc là một nhà cách mạng, tôi cũng là nhà cách mạng. Nguyễn Ái Quốc là một người cộng sản, tôi cũng là cộng sản. Nguyễn Ái Quốc có lòng dũng cảm, tôi cũng có lòng dũng cảm. Tôi không sợ cư trú dài hay ngắn hơn trong một nước tư bản”. Thế là người ta đã sửa soạn… Người bạn đã khuyên tôi nên ra nước ngoài đã nhận lời giúp tôi đến được một nước khác. Anh ấy đã hứa, nhưng chuyến đi đã không được thực hiện. Vậy là tôi lỡ một dịp đi đến một nước khác. Nhưng để tô vẽ bản cáo trạng, người ta đã đưa vào câu tôi muốn vào Nam. Khi đó tôi trả lời toà án: “Không, tôi không muốn vào Nam; tôi muốn đi ra nước ngoài”. Và người ta hỏi tôi: “Nhưng ở nước ngoài anh sẽ làm gì?” – “Đấu tranh cho thống nhất, thống nhất hai miền; ở nước ngoài tôi sẽ tiếp tục đấu tranh thực hiện thống nhất đất nước, thống nhất hai miền Bắc Nam”. Nghe lời tuyên bố ấy, cử toạ… – phiên tòa bao gồm những người ủng hộ Chính phủ, quần chúng của Đảng, đảng viên, những cán bộ của nhiều tổ chức và hoạt động khác nhau đều phản nhân văn – họ phá lên cười nhạo cái ý định đấu tranh cho thống nhất đất nước của tôi. Trong chuyến đi rời đất nước ra nước ngoài, tôi muốn thăm Ấn Độ và Nam Tư của Tito, tôi tin ở Nehru và Tito. Tôi rất muốn gặp họ và xin họ lời khuyên để đấu tranh cho nước Việt Nam bị chia cắt, để Việt Nam được thống nhất và độc lập. Tôi muốn gặp Tito và Nehru…”.

Sau này, khi ra tù, Nguyễn Hữu Đang cho biết: “ Khi Hiệp nghị Paris trả lại tự do cho tôi, tôi đã viết thư cho gia đình – người ta cho phép tôi viết thư cho gia đình để báo tin tôi được trả tự do. Lúc ấy cả gia đình tôi kinh ngạc, cả gia đình tôi hoàn toàn sửng sốt: “Ôi, kìa, anh Đang còn sống, thế mà chúng ta cứ tưởng anh đã chết lâu rồi”. 

Mối tình bi thương 

Sẽ là không vẹn toàn nếu nói về cuộc đời đầy bi kịch của Nguyễn Hữu Đang mà không nhắc tới mối tình đầy lãng mạn, nhưng cũng không kém phần bi thương của ông.

Ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Hữu Đang 32 tuổi. Ở cái tuổi “tam thập nhi lập”, lẽ thường đã phải yên bề gia thất, nhưng ông vẫn độc thân sau những năm tháng mải mê với những công việc xã hội.

Trong đống bản thảo mà Nguyễn Hữu Đang để lại có một bản mà giấy đã ngả màu vàng, gần như đã bắt đầu mục nát, không hiểu ông viết vào thời gian nào, ông đã kể lại mối tình đầu với một thiếu nữ Hà Nội tên là Huyền Nhiên: “Năm ấy mới 19 tuổi là con một gia đình thương nghiệp trung lưu sống theo nền nếp cổ truyền, chưa học hết bậc thành chung, phong cách thùy mị... không thích đua đòi”.

Ông viết: “Đối với tôi lúc ấy, sắc đẹp là tất cả, biết bấy nhiêu về Nhiên đã là thừa. Không cần biết gì về Nhiên mới đúng. Có ai lại ngớ ngẩn chỉ chú ý đến tài năng, đạo đức, học vấn, gia sản, lý lịch Hằng Nga, Tiên nữ bao giờ?... Theo lòng mình, tôi kính trọng Huyền Nhiên tới mức yêu nhau nửa năm trời tôi chưa từng dám chạm vào thân thể Huyền Nhiên, dù chỉ cầm tay cũng đã coi là xúc phạm, còn nói chi đến ôm hôn”... Hồi ức còn viết rất nhiều, bằng những lời lẽ mà chỉ đọc vẫn nhận ra tình cảm rất nồng nàn của người viết sau nửa thế kỷ đầy những truân chuyên.

Cuối cùng, vị Thứ trưởng Bộ Thanh niên cũng quyết định phải thổ lộ với người mình yêu bằng việc tặng cho Huyền Nhiên tiên nữ một chiếc vòng tay bằng bạc như một giao ước kết hôn. Nàng đã đặt chiếc vòng cầu hôn vào hộp, nói những lời cam kết là sẽ yêu chàng suốt đời, sẽ đến lúc thành hôn, sẽ chung sống với nhau trọn đời... Người đẹp chỉ có một yêu cầu: “Em chỉ ước ao được đến gặp cụ Hồ, được đứng gần cụ. Mà anh thì đến chỗ cụ luôn, anh cho em đến chỗ cụ Hồ một lần, chỉ một lần thôi”.

Tuy công việc khiến vị Thứ trưởng Thanh niên có cơ hội gặp Cụ Hồ, nhưng ông cũng e ngại vì không muốn lẫn lộn việc công tư. Nhưng tình yêu đã giúp ông thực hiện được một cách mỹ mãn ý nguyện của người mình yêu.

Có một nhà tư sản yêu nước ở tỉnh Bắc Giang tên là Ngô Tiến Cảnh mà ông từng quen biết trong thời kỳ tham gia chống thất học, lúc bấy giờ đang làm Chủ tịch cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”. Cuộc vận động này từng được cụ Hồ phát động nhằm cung cấp trang phục cho lực lượng vũ trang cách mạng mới thành lập còn nhiều thiếu thốn. Cuộc vận động đã làm được một vạn chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh muốn được gặp cụ Hồ để báo cáo tình hình và trao tặng tượng trưng tấm áo cho Người.

Nhà tư sản nhờ ông Nguyễn Hữu Đang đề đạt và cụ Hồ tỏ lòng sẵn sàng tiếp một đoàn đại biểu “Mùa đông binh sĩ”. Ông Đang bàn với ông Cảnh những nghi thức của buổi tiếp, để thêm phần trang trọng khi tặng áo cho Hồ Chủ tịch sẽ có một thiếu nữ bưng một cái khay trên đó đặt tấm áo được trao. Ông Đang hứa sẽ tìm người giúp ông Cảnh làm công việc này và đương nhiên người đó chính là cô thiếu nữ Hà thành đang mong ước được gặp cụ Hồ. Nhất cử lưỡng tiện.

Cuộc gặp được Nguyễn Hữu Đang kể lại trong bản thảo hồi ký của mình như sau: “Tới ngày giờ hẹn, tôi dùng xe hơi đưa Nhiên đến trụ sở “Mùa đông binh sĩ” rồi đến Bắc Bộ phủ. Cụ Hồ ra phòng khách lớn tiếp đoàn đại biểu trong đó có cả Huyền Nhiên đứng cạnh ông Cảnh, tay bưng sẵn chiếc khay trên đó có một chiếc áo trấn thủ. Ông Cảnh nói đến câu “Xin kính biếu Chủ tịch tấm áo trấn thủ đầu tiên may được” thì Nhiên bước nhanh đến sát cụ Hồ, khay nâng ngang mặt cung kính. Cụ cầm áo xem xét kỹ, khen “Tốt lắm!”, rồi đưa cho Vũ Đình Huỳnh giữ. Cụ nói chuyện với đoàn đại biểu có vẻ tự nhiên, cởi mở. Rồi như thường lệ, cụ không quên cử chỉ quan tâm đến người con gái vừa dâng áo, hãy còn cầm khay đứng đó. Cụ đặt bàn tay lên đầu Nhiên vỗ vỗ nhẹ mái tóc, nói dịu dàng: “Cháu mang đến cho Bác áo chống rét, quà quý của Ủy ban Mùa đông binh sĩ, Bác cảm ơn cháu. Cháu sẽ rủ các bạn của cháu cùng với cháu giúp các chiến sĩ bộ đội nhiều hơn giúp Bác, đem lại cho họ những món quà tỏ tình thương yêu của đồng bào. Cháu làm được không?”. Tất cả mọi người có mặt đều đổ dồn sự chú ý vào Nhiên và chờ cô đáp lại. Phần vì cảm động quá, phần vì chẳng biết trả lời thế nào, Nhiên e lệ cúi mặt nói yếu ớt tiếng run run như sắp khóc “Vâng”. Cụ cười độ lượng, khuyên nhủ ngọt ngào: “Phụ nữ thời cách mạng phải mạnh bạo. Có mạnh bạo mới đấu tranh được”...

Ít lâu sau, chiến tranh bùng nổ. Người thiếu nữ đã đính hôn của Nguyễn Hữu Đang phải theo gia đình tản cư khỏi Hà Nội. Năm 1948, quân Pháp đánh rộng ra các tỉnh xung quanh, càn quét liên miên hai bên các trục đường giao thông lớn. Gia đình Nhiên không chịu nổi gian khổ phải trở về Hà Nội. Không thể một mình ở lại vùng tự do, Nhiên đành theo gia đình. Từ đấy tôi không còn dịp nào gặp lại Nhiên”...

Chiến tranh, rồi cuộc kháng chiến 9 năm, khiến cuộc hôn nhân không thành và hai người sống cách xa nhau, nhưng lời hẹn ước thì không ai đơn sai. Ngày kháng chiến thành công trở về với thủ đô giải phóng, cuộc sống bề bộn cùng những bi kịch của đời ông, nên tiếc rằng mối tình duy nhất của ông đã trở thành dang dở.

Sau này Nguyễn Hữu Đang không kể thêm về cuộc đời tiếp theo của người bạn gái nhưng cho đến cuối đời, mối tình ấy vẫn là một ký ức đẹp nhất của cuộc đời ông.

Năm 2007 ông qua đời ở tuổi 93, mang xuống tuyền đài tất cả những vinh quang, cay đắng, hạnh phúc và khổ đau. 

Trường Sa
Tháng 4 năm 2014 
L.T.B. 
Nguồn: ngominh.vnweblogs.com

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

Trần Phan: TƯỢNG ĐÀI VÀ DÂN TRÍ


Khánh thành tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang 
(ảnh của báo Tuyên Quang)

Tượng đài và dân trí

Trần Phan
10-08-2015
 

Nhân việc tỉnh Sơn La quyết định bỏ ra 1.400 tỉ xây công trình “Tượng đài Bác Hồ với đồng báo các dân tộc Tây Bắc”, nhiều bài báo phân tích cái quyết định mất lòng dân đó trên các mặt sau:

a) Mức độ vô trách nhiệm một cách tàn nhẫn của giới chính quyền tán đồng dự án này, nếu xét con số khái toán quá lớn so với mức sống quá bần cùng của dân chúng trong tỉnh,

b) Dự án mang lại lợi ích gì cho những người quyết định xây? Mang lại lợi ích gì cho đất nước đang rất cần tập trung nguồn lực tài chính để phát triển nhiều mặt còn chậm tiến?

c) Tính độc tài trong những quyết định chi tiêu lớn như vậy mà không có ý kiến của dân…

Bài viết này xin được thảo luận về tượng Bác Hồ từ góc nhìn dân trí.

Xin mời các độc giả xem tấm ảnh dưới đây, chụp các lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang và Tỉnh ủy Sơn La bên Tượng đài “Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang” ngày 22/7/2015 (nguồn: từ bài “Tình cảm không thể cân đong đo đếm” đăng trên trang Anh Ba Sàm, ngày 04/08/2015).


Trong tượng đài “Bác Hồ với nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang”, Bác Hồ ở vị trí cao nhất, đứng trước Bác có một thiếu nhi, và chung quanh Bác có 5 người, chắc là đại diện cho 5 thành phần dân chúng. Bốn người trong đó hướng ánh mắt về Bác Hồ đầy vẻ ngưỡng mộ và tôn kính. Một người nhìn ra xa, dáng vẻ như quyết tâm xông lên theo lời Bác giục.

Một kiểu tượng Bác Hồ khác rất thường thấy mô tả Bác Hồ đứng cao giơ tay vẫy chào nhân dân, mà theo ông cựu Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhân dân Việt Nam ai cũng là con cháu Bác Hồ.

Nói chung, tượng Bác Hồ, ngoài vài trường hợp hiếm hoi, đều cho thấy một lãnh tụ cao vời, thương yêu dân chúng như những đứa con khờ dại cần phải được dạy dỗ, chăn dắt, chỉ đường đi… Cho nên tượng Bác Hồ phải được dựng khắp nơi, phong trào học tập theo Bác phải nở rộ từ Bắc vô Nam, từ trung tâm quyền lực của đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tới các cấu trúc chính trị ngoại vi của đảng như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Trí thức, Công nhân, Nông dân…

Trong thời đại của nền kinh tế tri thức và công nghệ thông tin hiện nay, tốc độ tiến hóa của cuộc sống đi nhanh gấp rất nhiều lần so với thời đại Thế chiến thứ hai. Chu kì sống của một sản phẩm công nghệ chỉ còn có 4-6 tháng. Người nghỉ hưu ra khỏi dòng hoạt động một năm hay thậm chí vài tháng thôi đã tự thấy chậm bước khá xa với cuộc sống trước mắt rồi. Vậy mà người dân Việt Nam thế kỉ thứ 21 vẫn còn bị bắt buộc suy nghĩ theo tư tưởng, đi theo con đường đã chọn, học tập tấm gương… của một con người sinh ra vào thế kỉ thứ 19!

Con hơn cha là nhà có phúc. Thế hệ sau phải vượt thế hệ trước thì cộng đồng mới hưng thịnh. Vậy mà vẫn còn những thế lực bắt dân tộc Việt Nam phải mãi thấp hơn, mãi là người học trò nhỏ, phải mãi giới hạn tầm nhìn, tư tưởng của mình trong tầm nhìn, tư tưởng của Bác Hồ.

Bài viết này không nhằm bàn tới việc ông Hồ Chí Minh có công lao trời biển với dân tộc hay không, có tài năng và nhân cách khiến nhiều người thực sự ngưỡng mộ hay không. Chỉ thấy hình tượng của ông được thổi lên lớn quá, khiến cái bóng của ông thật dài và thật rộng, bao phủ cả 90 triệu con dân Việt Nam nhỏ bé, ngước mắt lên chỉ thấy ông chứ không thấy bầu trời rộng rãi trên cao… Ngay cả khi có chấp nhận ông Hồ Chí Minh như là một nhân vật kiệt xuất, một anh hùng dân tộc của Việt Nam đi nữa, thì cái cách tôn thờ ông, dựng tượng ông cùng khắp như thế cũng góp phần cản trở dân trí.

Cho nên, tượng càng lớn, càng nhiều thì càng biểu hiện cho thế giới thấy văn hóa và tri thức đất nước càng thấp. Những bức tượng che tầm học hỏi và suy nghĩ của dân tộc, bít đường phát triển tri thức đất nước, và kéo theo bít đường phát triển kinh tế, văn hóa, giữ đất nước trong vòng chậm tiến, đói nghèo và lệ thuộc…

Tại sao chính quyền không biết quí những tượng đài vô hình mà vô giá của tri thức, của văn hóa, lại cứ mãi xây lên quá nhiều những tượng “tượng đài vô cảm” bằng xi măng, sắt thép tốn rất rất nhiều tiền của người dân? Chúng sẽ làm dân tộc yêu kính ông Hồ Chí Minh hơn hay ngược lại?



THÔNG TIN VỀ THỰC TRẠNG THI HÀI CỐ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH


Thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh 
luôn được giữ gìn ở trạng thái tốt nhất.

Xuân Hải
Lao Động 28/07/2015


Sáng 28.7, tại Hà Nội, Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng, tổ chức gặp gỡ báo chí tuyên truyền Kỷ niệm 40 năm ngày truyền thống Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (29.8.1975 – 29.8.2015). 

Phát biểu tại buổi gặp gỡ báo chí, Thiếu tướng Phạm Văn Lập - Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - cho biết: Trải qua 46 năm, kể từ khi Bác Hồ kính yêu vĩnh biệt chúng ta, thực hiện Quyết định của Bộ Chính trị, thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được giữ gìn ở trạng thái tốt nhất.Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng tại Quảng trường Ba Đình lịch sử và được duy tu tôn tạo ngày càng khang trang, sạch đẹp. Từ ngày mở cửa Lăng đến nay đã đón tiếp được gần 50 triệu lượt người dân trong nước và quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện tình cảm sâu nặng, đời đời biết ơn Người và nguyện đi theo con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn.

 Thiếu tướng Phạm Văn Lập - Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - phát biểu tại buổi gặp gỡ báo chí sắng 28.7 (Ảnh: Xuân Hải)

Thiếu tướng Phạm Văn Lập cho biết: Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là đơn vị làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt, được Đảng, Nhà nước, Quân đội mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng lãnh đạo và chỉ đạo. Cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ của đơn vị đã thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và Bác Hồ, đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn, nêu cao ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, chủ động sáng tạo, với một ý thức trách nhiệm cao, vươn lên hoàn thành xuất sác nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Quân đội giao phó.

“40 năm xây dựng và trưởng thành của đơn vị là cả quá trình phấn đấu kiên trì, bền bỉ với những chiến công thầm lặng. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của đơn vị đã trải qua những năm tháng chiến tranh gian khổ, thiếu thốn, phải tổ chức những cuộc hành quân di chuyển bảo đảm giữ gìn bí mật và tuyệt đối an toàn thi hài Bác” – Thiếu tướng Phạm Văn Lập nói.

40 năm qua, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc rằng: mỗi thành tích, mỗi chiến công của đơn vị đều gắn với sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ; trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự giúp đỡ to lớn của các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng, Cụm Di tích lịch sử - Văn hóa Ba Đình, cấp ủy chính quyền nhân dân các địa phương trong cả nước và bầu bạn quốc tế.

Thiếu tướng Phạm Văn Lập nhấn mạnh: Phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới, bước vào giai đoạn mới của cách mạng, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân đã tin tưởng giao phó – Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để Lăng Bác mãi mãi là nơi tôn nghiêm nhất, là không gian thiêng liêng của toàn dân tộc, nơi góp phần bồi đắp, hun đúc lòng yêu nước, chí anh hùng và các phẩm chất tốt đẹp của các thế hệ Việt Nam.


________________

Thi hài cố Chủ tịch Hồ Chí Minh trải đã 46 năm, và đã có đến 40 năm gìn giữ bảo quản trong lăng ở Hà Nội, mở cửa đón tiếp đến gần 50 triệu lượt người đến viếng, mà đến giờ vẫn còn tốt, vậy là cán bộ kỹ thuật của ta rất giỏi. Vừa làm, vừa học từ các chuyên gia nước ngoài, cán bộ của ta thông minh, sáng tạo, đã đáp ứng được rất tốt cho yêu cầu nghiêm nhặt và chưa từng có tiền lệ ở VN và rất hiếm hoi trên thế giới.

Tuy nhiên, đã từng có ý kiến nêu ra:

- Thời gian gìn giữ thi hài cố Chủ tịch HCM đã tròn 40 năm, đồng bào khắp trong nam ngoài bắc, kiều bào từ nước ngoài và các nguyên thủ trên thế giới đã được chiêm ngưỡng nhiều lần. 

- Tiền của để phục vụ cho vận hành lăng rất tốn kém, và nhân lực cần có cả một bộ tư lệnh để phục vụ.

- Giữa thủ đô, để một lăng mộ to lớn cũng không phải là tốt, cả về mặt môi trường lẫn phong thủy. Đặc biệt khu lăng mộ này lại sát Nhà Quốc hội và các cơ quan đầu não của đất nước. 

(Xưa kia, các vua chúa cả bên ta, bên tàu, mặc dù uy quyền lớn lao, mặc dù lưu luyến ngôi báu cũng không ai tự để hoặc vua kế vị để lăng tẩm vua cha trong hoàng thành, tử cấm thành. Các vua triều Nguyễn để lăng mộ cách hoàng thành cả chục km. Lăng mộ thường xây ở nơi sơn thủy hội tụ, nên gọi là sơn lăng, lấy núi non làm án, lấy khe ngòi làm long hổ, chứ không để chình ình giữa nơi đô hội).

- HCM đã có để lại di chúc, muốn được hỏa táng rồi an táng tro cốt chứ không muốn tổ chức điếu phúng linh đình, đặc biệt là xây lăng tẩm tốn kém tiền của, lại có cả tiêu binh - tức là người sống bồng súng canh gác suốt đêm ngày, qua năm tháng.

- Quan niệm Phương Đông là khi chết là được an táng mồ yên mả đẹp, chết toàn thây, rất kỵ động mồ động mả,  vì vậy, việc không an táng thi hài, lại luôn nâng lên hạ xuống hàng ngày, và nhất là khi mới tạ thế đã phải bị đụng dao kéo xử lý kỹ thuật đối với di hài của Người, rất đau lòng. 

Vì thế, đã có đề xuất:

Nhà nước ta nên mở một cuộc trưng cầu ý dân về việc sẽ để lại lâu hơn nữa, hay là thực hiện ngay việc hỏa táng rồi an táng thi hài của cố Chủ tịch HCM theo đúng NGUYỆN VỌNG của Người và TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC. Cuộc trưng cầy ý dân cần nêu hết các ý kiến để dân xem xét, chọn lựa và tiến hành khách quan, minh bạch, khi có kết quả, sẽ lại mở 1 cuộc hội thảo có sự tham gia của các nhân sĩ trí thức, chức sắc tôn giáo, nhà khoa học để đi đến kết luận cuối cùng.


 

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

Chủ tịch Sơn La: CHƯA CÓ TƯỢNG ĐÀI LÀ THIỆT THÒI CHO CHÚNG TÔI

Soha News 
06/08/2015 14:00 

Ông Cầm Ngọc Minh - Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cho biết, quy hoạch chi tiết quần thể tượng đài sẽ công bố ngày 10/10, đồng thời khẳng định 1.400 tỷ chỉ là con số dự kiến.  

 

Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Cầm Ngọc Minh (phải) trả lời PV báo Trí thức trẻ sáng nay, 6/8.
  Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La Cầm Ngọc Minh (phải) trả lời PV sáng nay, 6/8.

Trả lời PV báo Trí thức trẻ trong sáng nay, ông Cầm Ngọc Minh - Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cho biết, quy hoạch chi tiết quần thể tượng đài Bác Hồ sẽ được công bố vào ngày 10/10/2015, nhân dịp kỉ niệm 120 thành lập tỉnh Sơn La.

Đây cũng là thời điểm được chọn để làm lễ động thổ quần thể khu tượng đài giá trị nghìn tỷ, vốn đang được sự quan tâm rất cao của dư luận.

Tại buổi phỏng vấn, vị Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La cũng tái khẳng định quan điểm của tỉnh, là sẽ cân đối trên tinh thần tiết kiệm nhất về quy mô cũng như kinh phí cho đề án này. 

"Trong cả nước đã có rất nhiều tỉnh có quảng trường, tượng đài, Sơn La là chưa có cũng là thiệt thòi cho chúng tôi. Con số 1.400 tỷ mới chỉ là con số khái toán, chưa phải là con số cuối cùng của đề án này.

Trên tinh thần cầu thị, chúng tôi chắc chắn sẽ còn phải đi tham khảo mô hình tượng đài và quảng trường từ các tỉnh khác để sao cho có phương án xây dựng tiết kiệm nhất nhưng cũng không bỏ qua các hạng mục quan trọng".
Tượng đài Bác Hồ với nhân dân tỉnh Hà Giang được xây dựng ở Hà Giang
Tượng đài Bác Hồ với nhân dân tỉnh Hà Giang được xây dựng ở Hà Giang
Trước đó, cũng trong buổi phỏng vấn với PV báo Trí thức trẻ, ông Minh đã lý giải về con số 1.400 tỷ đồng trong đề án nhắc tới, là bao gồm việc xây dựng một loạt công trình với diện tích khoảng 20 ha bao gồm:
Quảng trường, tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc, mặt bằng Trung tâm hành chính của tỉnh, khu tái định cư và giải phóng mặt bằng, đền thờ Bác Hồ và bảo tàng (sau năm 2020)...
"Trước mắt sẽ ưu tiên xây dựng và hoàn thiện hai công trình quảng trường, tượng đài Bác vào dịp 7/5/2019 để kỷ niệm sự kiện 60 năm Bác Hồ về thăm đồng bào các dân tộc Tây Bắc", ông Minh thông tin.
Ông Minh cũng cho biết thêm, việc xây tượng đài sẽ phân kỳ đầu tư, trong đó có cả hình thức xã hội hóa, chứ không thể dùng toàn bộ ngân sách. Tuy nhiên, chủ trương vẫn trên tinh thần tiết kiệm, đảm bảo hiệu quả và đúng quy định. 

Yêu cầu Sơn La báo cáo về đề án 1.400 tỉ đồng
Ngày 5-8, Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu UBND tỉnh Sơn La báo cáo về thông tin báo chí nêu liên quan đến đề án xây dựng quần thể tượng đài Bác Hồ với đồng bào Tây Bắc.
Facebooker Tuấn Khanh: “Vâng, dân tộc này cũng đã biết mình vô cùng thiệt thòi khi phải sống cùng các bạn!“

Facebooker Nguyen Hoang Anh: “Hoá ra họ không thấy thiệt thòi vì dân đói khổ, trẻ em không có cơm ăn áo mặc, không được học hành mà chỉ vì không có quảng trường, tượng đài! Loại lãnh đạo này còn ngày nào dân khổ ngày ấy!“

 
















PHƠI BÀY NHIỀU KHUẤT TẤT CỦA DỰ ÁN TƯỢNG HCM 1.400 TỶ

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: 
Dự án khu tượng đài tại Sơn La 
không nằm trong quy hoạch đã duyệt

Dân trí
Thứ Năm, 06/08/2015 - 13:21

Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Tùng cho biết, dự án xây dựng quảng trường Sơn La khác hoàn toàn với Quy hoạch danh sách các địa phương được ưu tiên xây dựng, tu bổ tượng đài Bác Hồ. Mẫu tượng đài “Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc” cũng chưa được báo cáo Ban Bí thư.

>> Thủ tướng yêu cầu Sơn La báo cáo việc xây tượng đài "nghìn tỷ"
>> Tỉnh Sơn La: Tượng đài chỉ 200 tỷ đồng!
>> Chủ tịch tỉnh Sơn La lý giải nguồn tiền xây dựng tượng đài "nghìn tỷ"

Nhiều địa phương đã có tượng đài Bác Hồ với nhân dân địa phương 
- trong hình là tượng đài Bác Hồ với các dân tộc tại Tuyên Quang.

Ngày 6/8/2015, Văn phòng Chính phủ có văn bản số 6176/VPCP-KTN do Phó chủ nhiệm Văn phòng Nguyễn Văn Tùng ký, thông báo ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc xây dựng Tượng đài “Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc” tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.


Theo đó, Thủ tướng chỉ đạo, UBND tỉnh Sơn La chỉ được tiến hành khởi công xây dựng Tượng đài “Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc” khi bảo đảm các điều kiện cần thiết theo quy định, trong đó có việc phải báo cáo Ban Bí thư phê duyệt mẫu tượng đài và xác định rõ nguồn vốn.

Thủ tướng cũng yêu cầu UBND tỉnh Sơn La phải lập dự án xây dựng Tượng đài “Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc” theo đúng chỉ đạo của Ban Bí thư và quy định pháp luật.

Trường hợp Tượng đài “Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc” được gắn liền với các hạng mục công trình công cộng khác trong một Dự án thì cần tách bạch thành một hạng mục riêng để thẩm định, phê duyệt theo quy định.

Việc quy hoạch, xây dựng các hạng mục công trình công cộng thuộc thẩm quyền của tỉnh cũng phải được tính toán kỹ lưỡng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực.

Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Tùng cho biết thêm, Quy hoạch Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh mà Thủ tướng phê duyệt thực chất là danh sách các địa phương được ưu tiên xây dựng, tu bổ, nâng cấp Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi có ý kiến đồng ý của Ban Bí thư.

Quy hoạch này hoàn toàn khác so với các quy hoạch xây dựng như quy hoạch xây dựng khu Quảng trường hay Trung tâm hành chính... ở tỉnh Sơn La.

Liên quan tới thông tin UBND tỉnh Sơn La dự kiến khởi công công trình vào ngày 11/10/2015 tới đây, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Tùng cho biết, chắc chắn không thể được vì hiện nay mẫu tượng còn chưa được báo cáo Ban Bí thư để lựa chọn, chưa có Dự án nên càng chưa rõ nguồn vốn được bố trí như thế nào. Trong khi đó, theo quy định thì công trình chỉ có thể được khởi công nếu đã có dự án được phê duyệt, có giấy phép xây dựng, có thiết kế bản vẽ thi công được duyệt, bố trí đủ vốn theo tiến độ….

P.Thảo

Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015

CÀNG TỈNH NGHÈO, CÀNG CÓ NHIỀU TƯỢNG HỒ CHÍ MINH


“Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”

Nguyễn Văn Tuấn
04-08-2015

Đó là câu thơ hay của Tố Hữu viết vào năm 1969, khóc Chủ tịch HCM qua đời. Chúng ta biết rằng hiện nay VN đang nóng lên với cơn sốt tượng đài. Tôi mới “phát hiện” một qui luật rất thú vị: những địa phương nào nghèo nhất cũng chính là những địa phương có tượng đài nhiều nhất, đặc biệt là tượng đài về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngạc nhiên?


Có thể nói rằng VN đang có một trào lưu xây tượng đài và di tích. Nơi nơi xây tượng. Từ nay đến 2030 sẽ xây thêm 58 tượng đài Chủ tịch HCM (1). Ngoài tượng đài HCM, người ta còn xây văn miếu và đài tưởng niệm khác. Hãy thử liệt kê một số địa phương nổi cộm xuất hiện trên báo chí:

• Sơn La: dự án xây dựng tượng đài HCM, tốn 1400 tỉ đồng.
• Lai Châu: Tượng đài HCM về thăm Lai Châu (2009), chi phí 41.5 tỉ.
• Tuyên Quang: Tượng đài HCM với các dân tộc Tuyên Quang (2015), chi phí 200 tỉ.
• Hà Giang: Tượng đài Thanh niên xung phong, tốn 46 tỉ đồng.
• Điện Biên: Tượng đài Điện Biên Phủ, chi phí 51 tỉ (rút ruột 30%).
• Lào Cai: Tượng đài biểu tượng văn hóa, chi phí?
• Hà Tĩnh: Xây Văn Miếu, 80 tỉ đồng.
• Nghệ An: Khu di tích HTLoan (chi phí ?), đền thờ NSSắc (tốn 73 tỉ đồng) và chị em CT HCM (không thấy nói tốn bao nhiêu).
• Quảng Nam: Tượng mẹ VNAH, tốn 411 tỉ đồng.
• Vĩnh Phúc: Xây Văn Miếu, tốn 300 tỉ đồng.
• Quảng Ninh: Xây tượng đài biểu tượng văn hoá, tốn 25 tỉ đồng (mới bị sét đánh).
• Sài Gòn: Tượng Chủ tịch HCM, tốn 7 tỉ đồng.

Nhìn qua danh sách trên, chúng ta thấy sốc nhất và nổi nhất vẫn là Sơn La đòi xây tượng đài với cái giá 1400 tỉ đồng. Nhưng thấy gì qua các địa danh có những tượng đài và khu di tích trên? Ngoại trừ Sài Gòn, đó là những tỉnh nghèo nhất nước. Xin minh chứng: số liệu của Ngân hàng Thế giới mới công bố cho thấy tỉ lệ dân nghèo như sau (2):

Sơn La: tỉ lệ nghèo 64%
Lai Châu: 76%
Tuyên Quang: 40%
Hà Giang: 71%
Điện Biên: 71%
Lào Cai: 57%
Hà Tĩnh: 22%
Nghệ An: 27%
Quảng Nam: 23%
Vĩnh Phúc: 12%
Quảng Ninh: 12%
Sài Gòn: 3%

Những số liệu trên đây cho thấy hai qui luật chung là tỉnh càng nghèo thì càng xây nhiều tượng đài hoặc khu di tích, và chi phí thuộc vào hàng đắt nhất. Chỉ có một ngoại lệ trong danh sách trên là Sài Gòn xây tượng chỉ tốn 7 tỉ đồng. (Thật ra, tôi dùng chữ “chỉ” là đáng bị ném đá). Còn một qui luật phụ nữa là các tỉnh có vẻ thích xây những tượng đài gì có liên quan đến Chủ tịch HCM, có nơi như Nghệ An xây khu di tích thờ luôn cả chị em của ông! Qui luật hai này cho thấy ông cụ tuy qua đời đã lâu nhưng uy danh của ông vẫn có thể giúp các tỉnh nghèo có dịp kiếm chác. Chợt nhớ đến những vần thơ bất hủ của Tố Hữu khi thi sĩ Khóc Bác (3):
[…]
Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

[…]
Bác đã lên đường theo tổ tiên
Mác – Lênin, thế giới Người hiền
Ánh hào quang đỏ thêm sông núi
Dắt chúng con cùng nhau tiến lên!

.
Tôi nghĩ các địa phương xây tượng Chủ tịch HCM nên khắc những vần thơ này dưới chân tượng hay một nơi nào đó uy nghiêm nhất.
____

(1) Xây thêm 58 tượng đài Hồ Chí Minh từ nay đến hết năm (Tuyên Giáo). Bài viết này đã bị gỡ bỏ khỏi trang Tuyên Giáo, mời xem tại đây.
(2) Cầu sao bản đồ Việt Nam ít màu đỏ (Nguyễn Văn Tuấn/ BS).
(3) Bác ơi! (DT).
.