Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Xuân Diện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Xuân Diện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

Nguyễn Xuân Diện: PHẬT GIÁO CHỦ TRƯƠNG KHÔNG ĐỐT VÀNG MÃ

Nguyễn Xuân Diện thăm chùa Keo - Thái Bình

Phật giáo không chủ trương đốt vàng mã
Thứ Ba, 24/08/2010-9:57 AM

(CL)- Nhân lễ Vu lan rằm tháng 7 hay còn gọi là ngày rằm xá tội vong nhân PV đã có trao đổi cùng TS. Nguyễn Xuân Diện, Viện nghiên cứu Hán Nôm về ngày lễ này.

PV:
Xin TS có thể cho biết nguồn gốc của lễ Vu Lan?

TS Nguyễn Xuân Diện: Trước hết lễ Vu Lan có nguồn gốc từ Phật giáo, cụ thể là xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiều Liên đại hiếu đã cứu mẹ mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ và sự tích lễ cúng cô hồn.


Còn Vu Lan là ngày lễ hằng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ (và tổ tiên nói chung) - cha mẹ của kiếp này và của các kiếp trước. Vu-lan là từ viết tắt của Vu-lan-bồn cũng được gọi là Ô-lam-bà-noa là cách phiên âm Phạn- Hán từ danh từ ullambana- chỉ sự khổ đau kinh khủng khi sa đoạ địa ngục.

Phật giáo cho rằng tinh thần cốt lõi nhất trong ngày lễ Vu Lan dịp Rằm tháng Bảy là chữ "hiếu". Đối với đạo Phật, thực hành hiếu thảo cũng là con đường của mọi Phật tử. Không hiếu thảo với cha mẹ thì không thể gọi là một Phật tử chân chính được.

Sự tích lễ cúng cô hồn tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì vậy, ngày nay mới có câu: "Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân".

Trong một số nước Á Đông, ngày lễ này thường được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 âm lịch, để tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ, ông bà tổ tiên và cũng để bố thí cho những linh hồn đói khát. Ở Nhật Bản ngày lễ này được tổ chức vào ngày 7 tháng 7 để tỏ những ước nguyện của mình, người ta viết ước nguyện rồi treo vào cây trúc với mong ước điều ước đó sẽ trở thành hiện thực.

PV: Lễ Vu Lan đối với người Việt có vai trò gì?

TS. Nguyễn Xuân Diện: Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và đã hòa quyện cùng tín ngưỡng dân gian để tạo thành Phật giáo Việt Nam.

Với người Việt, lễ Vu Lan đã trở thành một ngày lễ rất quan trọng. Trong các loại hình văn học nghệ thuật khác cũng nhắc tới ngày lễ này, như “Văn tế thập loại chúng sinh” của đại thi hào Nguyễn Du, trong hát xẩm có “Thập ân”,



hoặc bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy đã được chuyển thể thành hát văn với những câu thơ da diết:

Nhìn về quê mẹ xa xăm
lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa

ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương....



Nghi thức trong lễ Vu Lan có nhiều nhưng phổ biến nhất là việc các gia đình tự tổ chức các mâm cúng cho tới việc lập đàn Mông sơn thí thực- trai đàn, đàn lập lên để bố thí cho những vong hồn, các bà vãi kể hạnh, các gánh chèo diễn tích truyện Mục Kiều Liên cứu mẹ; hay lập lễ giải oan cắt kết. Lễ phóng sinh các loài như: chim, cá, rùa, cua, ốc...

PV: TS. có thể cho biết trải nghiệm của mình qua mỗi mùa Vu Lan?

TS. Nguyễn Xuân Diện: Trước đây, mỗi dịp Lễ Vu Lan tôi thấy người dân chỉ mua một ít tiền, vàng, một vài bộ quần áo tượng trưng để đốt cho ông bà, tổ tiên. Những năm gần đây, nhu cầu đốt vàng mã ngày càng tăng, trung bình mỗi nhà sắm mã cúng rằm khoảng 50.000đ/lễ, khá giả thì 200.000- 300.000đ/lễ. Còn đối với các "đại gia" thì số tiền dành cho vàng, mã vài ba tới vài chục triệu đồng là bình thường.

Người ta đổ xô đi mua đủ các thứ hàng mã: nhà lầu, xe hơi, tủ lạnh, máy giặt, ti-vi, điện thoại, tiền vàng, quần áo...Năm nay tôi còn thấy trong các mặt hàng gửi cho “người âm” còn có cả thẻ tín dụng, Iphone, vé máy bay và hộ chiếu và cả mũ bảo hiểm..

Việc tổ chức lễ Vu Lan đã trở nên ồn ào và phô trương hơn so với thời gian trước.

PV: Vậy Phật giáo có chủ trương đốt vàng mã?

TS. Nguyễn Xuân Diện: Theo tôi được biết, thì đạo Phật không chủ trương đốt vàng mã. Cụ thể trong tài liệu mà Hòa thượng Tố Liên (sinh năm 1903) đã viết: “Đức Phật Thích Ca không dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên. Ngày Rằm tháng bảy là ngày Mục Kiều Liên cứu bà Thanh Đề. Mục Kiều Liên tu chứng được 6 phép thần thông mắt trông thấy thân mẫu là bà Thanh Đề phải đày đoạ ở địa ngục mà ngài không sao cứu nổi mới cầu đến đức Phật. Đức Phật mới dạy rằng “dầu ông có thần thông đến đâu chăng nữa cũng không có thể cứu được tội, nghiệp của thân mẫu ông, phải nhờ đến công đức tu hành của chư tăng mới cứu được tội nghiệp cho thân mẫu của ông được. Ngày rằm tháng bảy sắp tới đây sẽ là ngày của chư phật hoan hỷ, ngày của chư tăng hành đạo tự tứ. Ông phải chí thành sắm lễ nghi trai đàn đem dâng cúng dàng chư tăng. Các ngài sẽ cầu nguyện cho thân mẫu ông được giải thoát.” Chính ý nghĩa của ngày rằm tháng bảy chỉ có thế thôi, không hơn không kém. Chúng ta có ai thấy Phật dạy đốt vàng mã cúng gia tiên ngày rằm tháng bảy.

Người Việt xuất phát từ quan niệm truyền thống “trần sao âm vậy” cho rằng con người khi chết đi thì vẫn còn những nhu cầu như người sống, ban đầu người ta chôn theo những vật dụng sinh hoạt theo người chết, sau đó để giản tiện hơn người ta làm tiền vàng bằng giấy và mã. Việc đốt vàng mã khi đó mang yếu tố tâm linh, chi phí cho một lễ tiền vàng cũng không đáng kể, nhưng tới hôm nay việc đốt vàng mã đã có rất nhiều biến đổi dẫn đến sự tốn kém, cùng với nguy cơ về cháy nổ và ô nhiễm môi trường.

PV: Và việc đốt vàng mã có thực sự đem lại cho người đã khuất và người còn sống sự yên ổn?

TS. Nguyễn Xuân Diện: Con số thống kê chưa đầy đủ cách đây 7 năm (2003) của ngành văn hóa cho thấy: đã có hơn 40.000 tấn vàng mã được sử dụng trong một năm và riêng tại Hà Nội đã tiêu thụ trên 400 tỉ đồng cho việc đốt vàng mã. Rõ ràng, đây là một con số “biết nói”…

Được biết, trong ngày lễ Vu Lan năm 2009, một đại gia thầu cát xây dựng tại sông Hồng đã xác lập "kỷ lục" đốt vàng mã với việc bỏ ra hơn 400 triệu đồng thuê 6 người làm 1.000 người, ngựa giấy, đốt "tặng" Thổ công, Hà Bá mong các "ngài" phù hộ cho giá cát tăng...

Đốt các loại giấy này là một hành động gây ô nhiễm môi trường nói chung và vệ sinh môi trường tại cộng đồng nói riêng. Đặc biệt là đối với khu dân cư tập trung đông người thì tàn tro của vàng mã đã trở thành một vấn nạn.

Theo Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy- Công an Thành phố Hà Nội thì một trong những nguyên nhân của các vụ cháy là do người dân bất cẩn khi thắp hương và hóa vàng (14/43 vụ trong 3 tháng đầu năm 2009), sau các nguyên nhân về điện và sử dụng khí đốt hóa lỏng gas.

Chẳng biết “người âm” sẽ nghĩ gì khi cùng với một đống vàng mã đắt tiền là những lời khấn đặc mùi vật chất. Sự thiêng liêng của tâm linh, và đức tin trong mỗi người bỗng chốc trở nên ồn ào và khó hiểu.

Thay bằng việc đốt vàng mã một cách phô trương, mọi người hoàn toàn có thể làm rất nhiều việc có ý nghĩa thiết thực hơn như quan tâm tới cha mẹ, tới những bậc trưởng lão, tham gia thiện nguyện, nuôi dưỡng những người cô đơn khó khăn.

PV: Xin cảm ơn ông!
Nguồn: Công luận.

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Nguyễn Xuân Diện: ĐẠI HỘI VIII HỘI NHÀ VĂN NGÂM KHÚC (2010)


ĐẠI HỘI VIII HỘI NHÀ VĂN NGÂM KHÚC
(họp tại Hà Nội từ 2- 6/8/2010)


Lâm Khang Nguyễn Xuân Diện
(phỏng theo Chinh phụ ngâm khúc)
Lời dẫn của Trần Nhương: TS Nguyễn Xuân Diện dân Hán Nôm nhưng bạn bè văn chương hơi bị nhiều. Dịp ĐH VIII (2-5/8/2010) ông vác laptop đến ĐH làm tin và sáng tác kịp thời khúc ngâm này. Sau 5 năm đọc lại thấy rất không khí và bám sát diễn biến ĐH. Xin mời các bạn đọc lại cho vui trong lúc thời tiết oi nồng vần vũ này...

Khúc Một: Tiền Đại hội
2.8.2010

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách làng văn nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!

Khắp các web dở hay mọi nhẽ
Khói thuốc lào vần vũ quán văn!
Khắp nơi tán chuyện văn nhân lăng nhăng,
Nửa đêm tâm sự xa gần niềm riêng.

Gọi điện thoại chẳng kiêng khuya khoắt,
Nhấc máy lên là ắt cà kê,
Nhỏ to mấy chuyện tỉ tê,
Xa gần rồi cũng lại về bầu ai?

Đường rong ruổi lưng gài cung tiễn
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.
Bóng cờ Hữu Thỉnh xa xa
Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng!
.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy cao cao những mấy tầng lầu
Hỏi thăm tòa cũ đỏ au
Phải nơi hội họp với nhau mấy ngày?

Lại ríu rít mê say chuyện cũ,
Cùng hàn huyên nỗi khổ đường trường.
Cả mừng, khoe tỉnh chủ trương,
Đã cho lộ phí, lại thương ... dặn dò!

Lại to nhỏ: Bản tin ai thảo?
Để rạng ngày ngàn đạo truyền đi.
Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu!

Khiến ban, bệ cùng nhau theo sát.
Khắp làng văn một lượt cùng truy,
Truy đi truy lại một khi,
Bóng chim tăm cá tìm gì được chăng?

Kìa Trang Hạ gọn gàng nai nịt
Khăn đầu rìu đã chít trên đầu.
Khinh thân nhẹ gót yêu kiều,
Thoáng trông đã thấy mỹ miều văn nhân!

Lại Minh Thái phong trần một ả,
Vẫn còn mơ phép lạ thần tiên.
Dám nhờ lượng cả bề trên
Xét soi vận mệnh của nền văn chương.

Xiêm y nọ phả hương trong gió,
Hàng cờ bay mờ tỏ ải xa.
Thấp cơ thua trí đàn bà!
Chẳng nghe nhời thiếp mới ra sự tình!

Trần Mạnh Hảo tung mình xuất chưởng,
Mặt văn nhân những tưởng đeo sầu.
Bùi Minh Quốc tự ngàn sâu,
Vội vàng mới kể gót đầu ngược xuôi.

Lại thêm nữa một người lên tiếng,
Khối người nghe đau điếng tâm can!
Đừng đưa chính trị vào văn
Nguyễn Duy nhếch mép cười gằn mấy câu.

Rồi lại nói chuyện bầu, chuyện bán
Ối lạy giời! Con ngán lắm rồi!
Hội Nhà văn ấy hội vui,
Chớ làm xấu mặt như bôi mực tàu!

Trời xanh thẳm một màu có thấu?
Khách làng văn đau đáu niềm riêng!
Mấy lần gõ mõ khua chiêng,
Ầm ầm một lúc lại yên tứ bề!

Cùng điểm mặt từ quê đến phố,
Khách anh hùng sao khó tìm ghê!
Hoang mang đến độ tê mê,
Giật mình mình lại vuốt ve tay mình.

Kìa Hữu Thỉnh một mình một ngựa,
Ngoảnh lại trông khói lửa ngút trời!
Bốn bề không một bóng người,
Trí Huân thấp thoáng phương trời xa xa!

Áo chàng đỏ tựa máu pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Trên có thích mà mình còn ngại
,Nghĩ thân mình từng trải bao phen.

Văn Nghệ chốn ấy đã quen,
Biết là nhạt, vẫn tòng quyền chấp kinh!
Xem ra chí bình sinh chưa thỏa,
Thôi cũng đành từ tạ bạn văn.

Nỗi niềm tâm sự khôn ngăn
Mấy lời phi lộ đã lan cõi ngoài!

Khúc hai: Người trong phủ

Khắp Hà Thành rợp trời cờ đỏ
Khách làng văn bỡ ngỡ hồn mê
Phi trường, ga lớn, bến xe
Văn nhân nườm nượp trẩy về đông vui

Cùng trông mặt cả cười phấn khởi
Xòe Khúc ngâm trao vội cho nhau
Hỏi nhau: Trang Hạ cô nào ?
Thì thầm to nhỏ: Bác bầu cho ai ?

Bỗng đâu thấy ngang tai tiếng sét
Vụt tối sầm nhật nguyệt phút giây!
Hóa ra một tướng ra tay,
Văn Chinh gươm lớn giáo dài xuất chinh!

Xét thân phận như hình trong phủ,
Quyết một lòng phò chúa cứu nguy.
Tôi trung phò chúa một khi
Đem thân tôi tớ đền nghì ân công!

Dàn thế trận bác đồng rợp đất
Cờ xí bay phơ phất ải ngoài.
Tiền hô hậu ủng không ai!
Xa xa một bóng cờ bay vật vờ!

Người trong trướng thẫn thờ theo dõi
Mặt chinh phu ai giỏi vẽ đâu?
Những người chinh chiến bấy lâu
Nhẹ xem tính mạng như màu cỏ cây!

Quyết một trận phanh thây kình ngạc!
Quyết hai trận tan tác chim muông!
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Hỏi người du tử có không ngày về?

Khúc ba: Kịch tính
3.8.2010

Sương đầu núi dầm dề như gội
Nước lòng khe nẻo lội còn sâu.
Bóng tà như giục cơn sầu
Vi lô hiu hắt ra màu khơi trêu!

Tin cấp báo buổi chiều càng gấp
Khách khuê phòng náo nức mong tin
.Ải xa đôi mắt dõi nhìn
Càng trông càng não càng phiền càng đau!

Cùng ngó trước ngó sau yên ắng,
Vi Thùy Linh bèn thắng yên cương!
Điểm binh, quyết chí lên đường,
Noi gương Bà Triệu, Bà Trưng mới là!

Thư một bức gửi ra tiền trận,
Quyết một phen rửa hận làng văn.
Sụt sùi gạt lệ thấm khăn,
Căm căm một dạ, khăng khăng một niềm!

Điểm binh tướng chia liền bốn đạo,
Chí khí xông sao Đẩu, sao Ngưu.
Xuất quân trời đã về chiều,
Chỉ ngang ngọn giáo quyết liều tấm thân!

Dụng binh pháp như thần như tướng,
Nắm quân cơ như Lượng như Tào!
Xông pha đồi thấp bãi cao,
Hào sâu lũy vững ra vào như không!

Đêm sâu xuống lòng sông gò bãi
Chim lợn kêu kinh hãi sa trường!
Lạnh lùng chiếu đất màn sương,
Một mình thân gái chiến trường sá chi!

Giữa giờ tý tức thì chớp giật,
Từ Thanh Niên tin mật phát ra.
Có hai mươi tám ông bà,
Tao đàn chủ soái điểm ra rõ ràng!

Đưa tin ấy là chàng Việt Chiến,
Đã từng qua binh biến nhiều phen.
Xông pha gió quạt trăng đèn,
Chàng nay tóc đã bạc chen mái đầu!

Ngày mới rạng từ lầu Bi - nét,
Bích Ngọc Nương tiếng thét đã ran.
Đăng Khoa khe khẽ vén màn,
Ôn tồn mấy tiếng, thở than mấy lời!

Trần Nhương tướng cũng sôi ùng ục
Ngựa hý vang như giục bước chân!
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Một đời gió núi mưa ngàn quản chi.

Mở nhật ký ghi ghi chép chép,
Bản tin ra như thép ra lò!
Thức khuya dậy sớm toan lo,
Trăng khuya nương gối, bơ phờ hồn mai!

Há như ai hồn say bóng lẫn,
Cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn như không!
Thi nhân phải biết xung phong,
Câu này thời phải ghi lòng, hỡi ai!
.
Hồng Giang tự phương trời xa ngái,
Gióng tiếng chuông kinh hãi làng văn!
Phải cùng dân tộc đồng hành,
Dân đau cũng thể thân mình đang đau!.

Vàng Anh đã trên đầu lược giắt,
Gác việc nhà, góp mặt làng văn
Còn đây bến nguyệt trăng ngần,
Đợi nàng một chén rượu xuân khuyên mời!

Hữu Ước vẫn im hơi lặng tiếng,
Vẫn oai phong trong trướng thảnh thơi.
Điều binh khiêu chiến cửa ngoài,
Dặn lòng phải biết chữ Thời mới nên!

Quang Thiều cũng trong rèm xõa tóc,
Mặc ngựa xe săn sóc hiên ngoài.
Trực Ngôn bác ấy, chẳng sai!
Tuần Việt Nam net có bài thường xuyên!

Khúc bốn: Dàn thế trận
4.8.2010.

Quá giờ Ngọ, lệnh truyền khai mạc,
Trắng một trời tóc bạc như sương!
Họ Phùng với bác Giáng Hương
Thong dong hai bác lễ đường bước lên!

Lời giáo huấn đã tuyên vang vọng,
Khắp ba quân phăng phắc lắng tai!
Hãy vì phẩm giá con người!
Vì Dân, vì Nước, trọn đời hiến dâng!

Đoàn Chủ tịch chắc rằng nghe rõ
Tiếng loa vang đã tỏ ải xa!
Ba quân gươm dáo sáng lòa,
Thì thùng trống giục, xập xòa chiêng ngân!

Nghi lễ đã sang phần tham luận
Cả hội trường xao động khác thường!
Đây lời Định Hải rưng rưng,
Mấy người trẻ tuổi, phải thương! Cho vào!.

Kìa Trang Hạ dồi dào công lực,
Nọ Thiếu Nhơn sung sức khí công.
Tạp kỹ phép thuật đã thông,
Lê Anh Hoài đó, phải dùng hắn ngay!

Xuân Nguyên nữa! Là tay cự phách
Phê, Dịch, Chơi đều oách xưa nay.
Một mình đi khắp Đông Tây,
Nước non non nước dấu giày còn in.

Nói hay thế mà khen chẳng thấy.
Thấy hội trường sấm dậy ầm ầm.
Xông pha tám đại hội văn
Mà nay nói chẳng ai cần nghe ai!

Duy Phương cũng tay tướng giỏi,
Đã nhiều phen gắng gỏi dấn thân.
Khen đi khen lại mấy lần
Bài Ngô Minh đó, rất cần đọc tuyên!

Tướng họ Triệu tên Xuân xuất chưởng
Khách làng văn quá ngượng quá đau!
Chỉ bàn những chuyện bán, bầu,
Dửng dưng với những nỗi đau giống nòi!

Dương Thuấn thét: Năm mươi vẫn trẻ
Phải đổi thay, chớ để như xưa!
Xa xa mấy ải phất cờ!
Thanh thiên bạch nhật còn ngờ chiêm bao!

Nguyễn Trần Thiết ào ào xuất trận
Mười lăm năm một bận góp vui!
Đăng đàn bỡ ngỡ hồn mai,
Biết mình phe cánh về ai bây giờ?

Đào Thái Tôn bất ngờ xuất chưởng.
Mặt chàng Mai những tưởng thần sầu!
Chống đôi nạng trắng phau phau,
Một quân một tướng dìu nhau đăng đàn!

Cơn gió giục mây vần khủng khiếp
Lời tuôn ra cay nghiệt làm sao!
Trường văn trận bút đã nhiều,
Giang hồ ân oán đã liều mấy phen!

Chiều đã xuống xiên xiên nắng quái,
Sương sa trường đã ngại bước chân.
Vội vàng Hữu Thỉnh thu quân,
Chuông rung, trống nổi, chiêng ngân, mõ dồn!

Xa xa khắp bãi cồn mặt nước,
Phủ một màu tang tóc bi thương,
Ngổn ngang một bãi sa trường
Nhạt nhòa trong bóng tà dương thảm sầu!

Khúc năm: Giáp lá cà
5.8.2010

Tờ mờ đất, ngày năm tháng tám
Trời một màu u ám não nề
Sáu quân đâu đấy chỉnh tề
Công khai đại hội hẹn thề đã lâu.

Tiền quân vẫn dẫn đầu Hữu Thỉnh,
Bàn chuyện nên định đỉnh ra sao.
Hội trường rộn tiếng rào rào,
Xì xầm có tiếng: Thế nào cũng xong!

Trời đã nóng như nung như nấu,
Chịu làm sao cho thấu khách văn.
Kìa kìa muốn bước lên đàn
Tướng quân Mạnh Hảo ruột gan phơi bày!

Hữu Ước đã trở ngay ngọn dáo,
Chuyện bán bầu rốt ráo phải nêu.
Tiến Lê cũng phụ ngay vào
Mai Liên cũng bảo phải bầu cho xong!

Minh Thư vội tấc lòng giãi tỏ,
Báo Văn kia vẫn đỏ mắt trông.
Phòng văn lạnh ngắt như đồng,
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan!

Xin người chớ buông màn xõa tóc,
Mặc ngựa xe chầu chực cửa ngoài!
Chữ rằng: Xuân bất tái lai!
Thiều Quang chín chục mới ngoài năm mươi!

Kìa xuất hiện một người khuê phụ,
Giọng thì thầm như nhủ như van.
Võ vàng tiều tụy dung nhan,
Khuê ly mới biết tân toan dường này!

Báo Văn Nghệ giờ đây ai cứu,
Việc làng văn ai liệu ai lo?
Hội trường lặng ngắt như tờ,
Một câu hỏi lớn đến giờ còn treo!

Trần Mạnh Hảo lại reo mấy tiếng
Khiến mấy người lại điếng tâm can.
Khi chàng xông tới diễn đàn,
Mi - cô bặt tiếng, dạ càng căm căm!

Chàng cứ bước phăm phăm đây đó,
Mặc đài cao nhăn nhó mấy người,
Một mình một ngựa như ai,
Chim ngàn bạt gió lạc loài kêu thương!

Lại Hữu Việt đường đường xuất hiện,
Ầm hội trường như chuyển như tan!
Văn đàn như một cây đàn,
Dây uyên muốn đứt, phím loan tưởng rời.

Sân khấu chuyển sang hồi bầu cử
Vận động ngầm, tâm sự nhỏ to!
Nhà văn thì phải tự do,
Thằng nào xứng đáng ta cho vào hòm.

Rừng đầy hổ, Hữu Tòng gác kiếm
Một lệnh truyền, bị biếm cõi ngoài!
Bơ phờ rối mớ tóc mai,
Mài gươm dưới nguyệt lấy ai đó giờ!

Tranh thủ lúc ngồi chờ kiểm phiếu,
Lại mời nhau phát biểu cho vui.
Ai lên cũng một trận cười,
Dù bài Trọng Thưởng, hay lời Thanh Giao.

Có mấy vị rằng đau trong họng,
Quyết không lên, hắng giọng giả vờ!
Tao đàn xơ xác xác xơ,
Mấy người du tử vật vờ hành lang.

Bình Lục lại oang oang tiếng đọc,
Lời thiết tha như khóc như than,
Đáng thương cho những nhà văn,
Không đau cùng với ngư dân nước nhà!

Phong Lê tướng lấy đà dấn bước,
Lại mấy lời rào trước đón sau.
Tuổi cao ý chí càng cao,
Phát ngôn của bác câu nào cũng hay!

Phạm Đình Trọng là tay cao thủ,
Sao lan man câu cũ, câu quen?
Phương Liên là bạn thiếu niên,
Lên vài ba phút, sợ phiền, xuống ngay!

Vòng một đã có ngay kết quả,
Khách làng văn hối hả mong tin.
Trời chiều bóng nguyệt đã lên,
Chim hôm thoi thóp về miền núi xa.

Khúc sáu: Ngôi chủ súy
6.8.2010

Lại trướng gấm ra vào mọi nhẽ
Lại bẻ bai nhỏ nhẹ luận bàn!
Dưới lầu xe ngựa chan chan!
Ra vào lại vẫn khách văn quen đường!

Ngôi chủ súy ấn vàng vẫn giữ
Lại một niềm phụng sự dưới trên!
Điếu văn lại soạn lại biên,
Chúc văn lại đọc khắp miền Bắc Nam

Ngôi chủ soái Thiên San vẫn vững,
Tiếng ong ve chịu đựng đã quen!
Đêm khuya trong trướng dưới đèn,
Bóng hoa lồng bóng nguyệt lên trước rèm!

HOA dãi nguyệt, nguyệt in một tấm
Nguyệt lồng HOA HOA thắm lại bông
Nguyệt HOA HOA nguyệt não nùng
Trước HOA dưới nguyệt, trong lòng xiết bao

Đơn lại nộp ào ào như gió!
Lại ra vào cửa nọ cửa kia!
Sang thu đến hẹn lại thề!
Đáo xuân về chim én lại về gác văn!

Thiếp đã tưởng mười năm đã hết,
Lòng thiếp nay thảm thiết đòi phen.
Lại năm năm nữa sau rèm,
Bơ vơ chiếc bóng, lòng thêm não lòng!

Chàng chẳng thấy bướm ong ở nội
Cũng dập dìu chẳng vội phân trương.
Chẳng xem chim én trên rường,
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.

Bao giờ nữa cùng nhau nâng chén,
Sẽ ca dần rén rén đòi liên?
Liên ngâm đối ẩm từng phen,
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già!

Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ,
Giữ gìn nhau vui thưở thái bình.
Khúc Ngâm mong gửi chữ tình
Lòng thành thiếp gửi bóng hình một hai!

HẾT