Hiển thị các bài đăng có nhãn Tia Sáng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tia Sáng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

CÒN AI TIN VÀO HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM NỮA KHÔNG?


Ban chấp hành Hội Nhà văn Khóa IX gồm 6 ngón tay trên một bàn tay. Nguồn: TNc
Còn ai tin vào nhà văn Việt Nam nữa không?

Inrasara*


Đại đa số nhà văn Việt Nam hôm nay từ chối làm nhà trí thức theo nghĩa mạnh nhất của từ này. Thì lấy đâu tác phẩm của hắn nhận được sự chú ý xứng đáng từ cộng đồng, nói chi chuyện cá nhân hắn được cộng đồng tôn trọng. Còn kêu ca than vãn công chúng lạnh nhạt với văn học thì không gì tệ hại hơn.


1. Xã hội nào bất kì, muốn tự thức để tiến bộ, cũng cần đến sự phản biện. Một phản biện đích thực: trực diện, mạnh mẽ, và đầy trí tuệ. Không phải lối phản biện “dân hỏi Bộ trưởng trả lời”, hay như ở Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học, Nghệ thuật Trung ương, các diễn giả lên giảng bài, sau đó đưa địa chỉ email: “Ai có thắc mắc gì cứ gửi điện thư cho tôi”. Mà là trực diện.

Xã hội Việt Nam hôm nay nảy sinh nhiều vấn đề nóng cần đến sự phản biện. Đâu đó đã có những phản biện, tội - ở đó nhà văn, nhất là cánh nhà văn thuộc Hội Nhà văn Việt Nam, ít dự cuộc hơn cả. Trong khi nhà văn là kẻ phản biện xã hội.

Không phải các “nhà” khác không phản biện xã hội, nhưng chính nhà văn là người phản biện xã hội toàn diện nhất, và nhất là - cần thiết cho sự khai mở tư duy sáng tạo của hắn nhất. Bác sĩ, kĩ sư, chuyên gia, giáo sư đại học… cũng phản biện, nhưng thường họ tập trung vào chuyên môn; cho nên nếu có phản biện thì họ phản biện về lĩnh vực chuyên môn của họ là chính. Còn nhà văn, bạn phải quán xuyến mọi vấn đề xã hội để có thể viết… văn. Qua đó, bạn hiểu xã hội để phản biện.

Một số nhà văn viết truyện phục vụ bộ phận độc giả nhất định: độc giả thiếu nhi, tuổi mới lớn hay các cô tiểu thư thị thành; hoặc cũng có không ít nhà văn quyết đóng phòng văn hì hục viết mong làm ra tác phẩm để đời. Tiếp xúc với độc giả - không; diễn thuyết trước công chúng - không; tham gia vào công việc xã hội, từ đó phản biện xã hội cũng không nốt. Đó là chọn lựa của họ, họ là nhà văn tháp ngà, chúng ta hãy để mặc họ với tham vọng riêng tư ấy. Còn lại, nhà văn là kẻ phản biện xã hội. Công chúng đòi hỏi nhà văn đóng vai trò một trí thức đúng nghĩa. Chỉ như thế hắn mới tạo ảnh hưởng nhất định đến lối suy nghĩ của cộng đồng, lớn hơn – tác động đến xã hội.

2. Nhà văn Việt Nam phản biện ai? Lạ, trên hết và trước hết, cộng đồng người đọc hôm nay đòi hỏi hắn phải biết phản biện chính tổ chức Hội Nhà văn Việt Nam, ở đó Ban Chấp hành là đối tượng đầu tiên cần nhận sự phản biện. Bởi Hội mà hắn tham gia là một tổ chức chính trị nghề nghiệp đang tiêu tiền của nhân dân, nên nó phải có trách nhiệm với nhân dân.

Việc xét kết nạp hội viên chẳng hạn, là vấn đề bị dư luận ì xèo nhất, chắc thế. Khía cạnh này, xin đề cập đến chuyên môn hẹp: Thơ. Việt Nam là “nước thơ”. Người làm thơ nhiều, tập thơ in ra cũng nhiều, cho nên ứng viên thơ luôn có con số vượt trội. Văn chương lại vô bằng, nên việc đưa lên đặt xuống là rất mất thì giờ, và mất… lòng. Nhưng thế nào rồi cũng nhắm mắt, nén lòng để chọn cho được đủ số đề cử lên Ban Chấp hành.

Ban Chấp hành là cấp quan cao nhất của Hội Nhà văn Việt Nam. Nếu bên Hội đồng chỉ trách nhiệm về chuyên môn, thì ở đây là cấp trách nhiệm… lớn hơn, toàn diện hơn. Thì hẳn! Ban Chấp hành nhiệm kì này gồm 15 vị, có văn xuôi, có thơ, có cả lí luận phê bình, vân vân. Ở đây, lại xin nói về thơ. Có ứng viên thơ đã qua cửa Hội đồng với số phiếu rất oách, tin chắc thế nào kì này bỏ túi thẻ Hội Nhà văn. Ai dè, qua Ban Chấp hành bị đánh trượt! Lí do? Ít người biết thi sĩ này quá. Nhưng họ đã vượt qua ải chuyên môn rồi mà? Vậy là ủy viên Ban Chấp hành phải đọc. Có thì giờ đọc duyệt hết không? Sức mấy! Đó là chưa xét đến khía cạnh: có đến hai phần ba Ban Chấp hành không chuyên ngành thơ. Không dám nói anh chị không hiểu về thơ, mà sẽ khó khăn hơn. Khó về chính ứng viên đó với tác phẩm đó, càng khó hơn nữa trong đối sánh với các ứng viên khác, thi tập khác. Kẹt là thế! Vậy, không tin Hội đồng chuyên môn do mình đề cử thì còn tin ai? Vậy mà Ban Chấp hành đã nhiều bận nói không với Hội đồng này!

Sự thiếu tin tưởng này còn đẩy lên cấp độ cao nhất ở xét giải thưởng, khi năm 2014, tập thơ vào chung khảo ở Hội đồng thơ chỉ được hai phiếu và bị loại nhưng nó được Ban Chấp hành xét tặng Giải thưởng thơ duy nhất của năm, trong khi ba tập khác được 7-8/9 phiếu thì bị loại. Mặc dù làm thế không sai quy chế của Hội Nhà văn, nhưng nó không thuyết phục được công chúng độc giả. Càng khiến Hội đồng chuyên môn không phục. Có nhà văn nào đã phản biện Ban Chấp hành về vụ kia không?

Trực tiếp hơn, Festival Thơ châu Á – Thái Bình Dương đầu năm 2015 vừa qua, 153 đại biểu thơ “quốc tế” có đến phân nửa là nhà thơ cấp “câu lạc bộ” lên diễn đàn “đánh vần” thơ tiếng Anh trình độ bằng B cho thính giả Việt Nam nghe, cạnh đó thính giả phải nghe phiên dịch viên dịch thơ bằng lối dịch cẩu thả đến vô trách nhiệm – mới tội. Festival Thơ tầm quốc tế ấy ta đã thu hoạch được gì, ngoài sự rềnh rang mang tính hội hè? Trong khi tiền của bỏ ra cho công cuộc đó không lấy đâu khác ngoài tiền thuế nhân dân. Mà ít ỏi gì cho cam. Có nhà văn nào đã lên tiếng phản biện không, ngoài tiếng nói lẻ loi trên Tiền phong Chủ nhật: “Không đương đại, không người trẻ”, đăng ngày 8-3-2015 (http://www.tienphong.vn/van-nghe /khong-duong-dai-khong-nguoi-tre-830375. tpo#Inrasara).

… Phải biết làm cuộc đoạn tuyệt với xã hội họ sống, ở trong Hội mà như đứng ra ngoài Hội – để làm một nhà văn tự do. Chỉ khi không còn manh mún vướng bận triền phược nào sót lại: sự ưu ái và đãi ngộ từ cơ chế hiện hữu, sự dung dưỡng với nương tựa nhau để hai bên - nhà văn và cơ chế - cùng có lợi, nhà văn mới có thể tự giải phóng toàn triệt.
Chuyện đơn giản vậy thôi mà không dám, không biết lên tiếng thì làm gì ta dũng cảm đứng mũi chịu sào phản biện khi tác phẩm của đồng nghiệp bị cấm xuất bản, hay xuất bản – phát hành để bị thu hồi, bị “đánh” hội đồng đầy bất công, oan uổng. Lớn hơn và nhạy cảm hơn – về vấn đề Biển Đông, về môi trường bị phá hoại, về vấn nạn tham ô đang lan tràn như một “bầy sâu” lúc nhúc. Vân vân…

Đại đa số nhà văn Việt Nam hôm nay từ chối làm nhà trí thức theo nghĩa mạnh nhất của từ này. Thì lấy đâu tác phẩm của hắn nhận được sự chú ý xứng đáng từ cộng đồng, nói chi chuyện cá nhân hắn được cộng đồng tôn trọng. Còn kêu ca than vãn công chúng lạnh nhạt với văn học thì không gì tệ hại hơn.

3. Nhưng liệu nhà văn còn có thể tránh né hiện thực xã hội mãi không? Câu trả lời là: không! Làm nhà văn có nghĩa là bị đẩy xuống tàu. Ngoại trừ văn nghệ sĩ sa-lông, hay các cây bút đầu hàng thời cuộc, ngày hôm nay mỗi hành vi công bố tác phẩm là một hành động đặt mình vào sự cuồng nộ của một thời đại không tha thứ (Créer aujourd’hui, c’est créer dangereusement. Toute publication est un acte et cet acte expose aux passions d’un siècle qui ne pardonne rien, - Albert Camus, “L’Artiste et son Temps”).

Hiện thực phổ quát, kèm với nó là sự thống khổ của đám đông có mặt khắp nơi, ở sát cạnh nhà bạn, ngay giữa lòng tập thể nhỏ bé tưởng yên ấm của bạn. Thống khổ và bất công lồ lộ được phương tiện thông tin đủ loại đẩy vào tận phòng ăn, giường ngủ của bạn, ám ảnh giấc mơ bạn. Đám đông ấy không để yên cho sự im lặng của bạn, khi im lặng đó bị coi như một thái độ. Họ càng không tha thứ cho tiếng nói của bạn, nếu đó chỉ là tiếng nói lưỡng lự, nửa vời.

Quần chúng đòi hỏi trách nhiệm của nhà văn. Trách nhiệm đó đòi hỏi nhà văn – dù thuộc hội đoàn nào bất kì, ở đây là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam – nói mạnh như Camus, là phải biết làm cuộc đoạn tuyệt với xã hội họ sống (la responsabilité supposait une rupture épuisante avec leur société), ở trong Hội mà như đứng ra ngoài Hội – để làm một nhà văn tự do. Chỉ khi không còn manh mún vướng bận triền phược nào sót lại: sự ưu ái và đãi ngộ từ cơ chế hiện hữu, sự dung dưỡng với nương tựa nhau để hai bên - nhà văn và cơ chế - cùng có lợi, nhà văn mới có thể tự giải phóng toàn triệt. Giải phóng cả truyền thống văn hóa văn chương từng chế ngự tâm thức nhà văn, tâm thức tạo nên thứ tâm lí bầy đàn hãi sợ sự cô đơn, chạy trốn tinh thần độc lập qua đó mài mòn cá tính sáng tạo. Chỉ dũng cảm cắt đứt như thế thôi, nhà văn không bị áp lực bởi thế lực nào bất kì, qua đó hắn mới có thể có tiếng nói khách quan và độc lập.

4. Đến đây, muốn tiếng nói bạn được quần chúng lắng nghe, nhà văn đồng thời phải là một nhà phê bình hoặc có khả tính phê bình. Tiếc, nhà văn Việt Nam hiếm có khả tính phê bình, nói chi là nhà phê bình. Ta sáng tác bản năng và cảm tính, và ta hãnh diện về nỗi thiếu lí tính ấy. Ta ưa nói: Vô chiêu thắng hữu chiêu; nhưng chưa có ngón võ nào trong tay, thì làm gì nói đến vô chiêu? Ta thích dẫn Goethe: Lí thuyết thì xám xịt, cây đời mới xanh tươi; trong khi trong tay ta chẳng có mủng lí thuyết nào, còn cây đời lại là thứ cây èo uột. Văn học Việt Nam muôn năm ở lại với nghiệp dư không phải không có lí do chính đáng của nó.

Ta thiếu triết học, ta không thèm chịu học triết học nữa, nghĩa là ta từ chối học suy tư độc lập, để có thể phản biện. Triết học ta đang dạy và đang học trong nhà trường là triết học “theo”: nghe theo, nói theo, suy tư theo; tôi gọi đùa nó là thứ triết học Theo-ism. Không lạ, khi những người viết văn, làm thơ đến mỗi “mùa hội viên” là lo chạy vào Hội Nhà văn Việt Nam, vào được rồi thì xoa tay - nghỉ, chứ hiếm khi viết được gì thêm, chẳng sáng tạo được gì mới; bầu Ban Chấp hành đại diện cho mình thì đầy cảm tính với cảm tình lẫn bè phái. Quần chúng có than vãn thì kệ. Ta đổ trách nhiệm cả lên đầu Ban Chấp hành, hay của cả khối tập thể, mà không là trách nhiệm của một ai. Ta giành phần vô trách nhiệm trước xã hội.

Hỏi, còn ai tin vào tiếng nói của nhà văn thuộc Hội Nhà văn Việt Nam nữa không?

------------

* Phó Chủ tịch Hội đồng Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2015

TỰ DO THÔNG TIN - NỀN TẢNG CHO MỘT XH MINH BẠCH

Đoàn Việt Nam trong buổi làm việc với ông Christopher Graham, Cao ủy Thông tin
Vương quốc Anh, ngày 21/5/2015 (Ảnh do tác giả cung cấp)

Tự do thông tin:
Nền tảng cho một xã hội minh bạch


Nguyễn Minh Thuyết

Thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống bởi nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân trong mọi lĩnh vực. Thông tin đồng thời cũng là “ô-xi của nền dân chủ”, như khẳng định của Chiến dịch Toàn cầu về Quyền tự do ngôn luận. Tự do thông tin - bao gồm tự do tìm kiếm, lưu giữ, truyền đạt và sử dụng thông tin dưới mọi hình thức - được coi là một trong những quyền cơ bản của con người.

Trên thế giới, Luật Tự do thông tin đầu tiên ra đời ở Thụy Điển cách đây gần 300 năm, nhưng phải đến những năm 1990 mới phổ biến ở nhiều nước phát triển khác. Thậm chí ở Vương quốc Anh, một nước có nền dân chủ lâu đời, mãi đến năm 2000 luật mới được ban hành và năm năm sau mới chính thức có hiệu lực. Ở Việt Nam, một bộ luật tương tự dưới tên gọi Luật Tiếp cận thông tin cũng đang được soạn thảo theo chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội.

Quyền lợi của cộng đồng là tối thượng

Trong chuyến đi đến Vương quốc Anh mới đây nhằm khảo sát việc thực thi Luật Tự do thông tin (Freedom of Information Act), chúng tôi đã được chia sẻ những câu chuyện hết sức ấn tượng.

Theo Luật Tự do thông tin ở Vương quốc Anh, các cơ quan chính quyền, các tổ chức hưởng ngân sách nhà nước đều có trách nhiệm chủ động cung cấp thông tin mà mình nắm giữ và giải đáp câu hỏi của bất kỳ công dân nào, kể cả người nước ngoài đang sinh sống tại Anh, mà người hỏi không cần nêu lý do tại sao họ nêu những câu hỏi đó. Thời hạn phải đưa ra câu trả lời là trong vòng 20 ngày và không đòi hỏi bất kỳ chi phí nào. Để thực thi trách nhiệm này, mỗi cơ quan, tổ chức thuộc diện điều chỉnh của Luật đều phải có nhân sự chuyên trách. Ở Đại học Glasgow nơi chúng tôi đến thăm, bộ phận này gồm sáu người, đứng đầu là một chuyên gia do Văn phòng Cao ủy Thông tin (ICO) biệt phái đến. Những người làm công việc này không nhất thiết được đào tạo về luật nhưng phải nắm vững Luật Tự do thông tin để quyết định việc có trả lời hay không trả lời một câu hỏi nào đó. Đại diện của Đại học Glasgow cho biết, mỗi năm trường nhận được vài trăm yêu cầu cung cấp thông tin, ngoài một số câu hỏi “tào lao” như trường có bao nhiêu con ma hay bao nhiêu tháp nhọn – tất nhiên là không cần mất thời gian trả lời những câu hỏi đó – những câu hỏi thường gặp là hiệu trưởng chi bao nhiêu tiền để đi công cán nước ngoài, chi bao nhiêu tiền tiếp khách, hiệu quả thế nào, hay năm qua trường đã chi bao nhiêu tiền để sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất,…
Ở Vương quốc Anh, ngay cả một số thông tin được coi là “bí mật quốc gia” cũng được xem xét để cung cấp theo yêu cầu của người dân dựa trên nguyên tắc lợi ích cộng đồng là tối thượng.
Tóm lại, người dân có quyền rất lớn trong việc đặt câu hỏi với bất kỳ cơ quan, tổ chức nào đang sống nhờ tiền thuế do họ đóng góp. Tuy vậy, Luật vẫn có những quy định về giới hạn của quyền này, hay còn gọi là những trường hợp ngoại trừ - cụ thể ở đây là các thông tin cá nhân, bí quyết kinh doanh, bí mật quốc gia. Điều đặc biệt là ở Vương quốc Anh, ngay cả một số thông tin được coi là “bí mật quốc gia” cũng được xem xét để cung cấp theo yêu cầu của người dân dựa trên nguyên tắc lợi ích cộng đồng là tối thượng. Trong trường hợp yêu cầu bảo mật không quan trọng bằng lợi ích cộng đồng thì ICO có quyền yêu cầu cơ quan sở hữu thông tin phải giải mật. ICO là một cơ quan độc lập do Quốc hội lập rangười đứng đầu, tương đương chức Bộ trưởng, do Nữ hoàng đích thân bổ nhiệm, chịu trách nhiệm giám sát và hướng dẫn việc thực thi Luật Tự do thông tin trên lãnh thổ Anh, Bắc Ireland và Xứ Wales (Scotland có Luật Tự do thông tin và ICO riêng). Ví dụ điển hình nhất về việc bí mật quốc gia cũng có thể được cung cấp theo yêu cầu là câu chuyện Thái tử Charles trao đổi thư với Thủ tướng về việc tham chiến ở Iraq. Khi báo giới đưa tin đó, một số người dân yêu cầu Chính phủ phải công khai nội dung những bức thư trao đổi giữa hai bên. Mặc dù Hoàng gia Anh không thuộc đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do thông tin, nhưng sau khi cân nhắc lợi ích của cộng đồng, ICO đã yêu cầu Chính phủ phải đáp ứng yêu cầu của người dân.

Giải đáp câu hỏi của chúng tôi vì sao Luật Tự do thông tin ở Vương quốc Anh ra đời từ năm 2000 mà mãi đến năm 2005 mới có hiệu lực, người đứng đầu ICO cho biết, năm năm đó là thời gian chuẩn bị bộ máy nhân sự, tập huấn, xây dựng văn bản hướng dẫn để việc thực thi Luật được trơn tru.

Có tự do thông tin mới có minh bạch

Hiện nay, hầu hết những thông tin ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân đều do các cơ quan nhà nước nắm giữ bởi vậy hệ thống các cơ quan nhà nước có trách nhiệm hết sức to lớn trong việc bảo đảm quyền tự do thông tin của công dân.

So với trước Đổi mới, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân đã có bước tiến đáng kể, mặc dù quyền này mới chỉ được đề cập trong Cương lĩnh của Đảng từ năm 1991. Thông tin về quy hoạch đô thị, giá đất…, đặc biệt là các văn bản pháp luật được công bố rộng rãi ngay từ giai đoạn khởi thảo qua nhiều kênh như cổng thông tin điện tử, bảng thông tin trước cửa các trụ sở cơ quan nhà nước.
Theo Luật Tự do thông tin ở Vương quốc Anh, các cơ quan chính quyền, các tổ chức hưởng ngân sách nhà nước đều có trách nhiệm chủ động cung cấp thông tin mà mình nắm giữ và giải đáp câu hỏi của bất kỳ công dân nào, kể cả người nước ngoài đang sinh sống tại Anh, mà người hỏi không cần nêu lý do tại sao họ nêu những câu hỏi đó.
Tuy nhiên, xét từ cả hai phía, chưa phải công dân và cơ quan, tổ chức nhà nước nào cũng nhận thức đầy đủ về quyền được thông tin và nghĩa vụ phải công khai và cung cấp thông tin mình có theo quy định của pháp luật. Bởi vậy mới dẫn đến những vụ việc lùm xùm thời gian gần đây như thay thế hàng nghìn cây xanh ở Hà Nội hoặc lấn sông ở Đồng Nai mà người dân không được biết, không được hỏi ý kiến; hay có vị quan chức nọ đã phát biểu hết sức ngạo mạn rằng, không cần hỏi ý kiến người dân vì người dân biết gì mà hỏi khi nói về một công trình được xây bằng hàng trăm tỷ đồng lấy từ ngân sách.

Bối cảnh đó càng khiến chúng ta mong đợi Luật Tiếp cận thông tin do Chính phủ soạn thảo từ năm 2008 sớm được Quốc hội ban hành và đi vào cuộc sống.

Là một trong những người được tiếp cận bản dự thảo từ rất sớm, lại đang chủ trì đề tài cấp Nhà nước về cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng đạo luật này, cá nhân tôi thấy rằng, so với tên gọi Luật Tự do thông tin thì tên gọi Luật Tiếp cận thông tin có ít nhiều mất mát về nội hàm. Mặc dù bản dự thảo được soạn theo hướng tương thích với quan niệm và quy định về quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận của các công ước, điều ước quốc tế và Luật Tự do thông tin của các nước trên thế giới, nhưng vẫn cần làm rõ thêm một số nội dung như quyền tự do lưu giữ và tự do truyền đạt thông tin dưới mọi hình thức. Về các trường hợp ngoại trừ như bí mật quốc gia thì cũng phải làm rõ vấn đề thời hạn giải mật đối với từng loại tài liệu. Việc thành lập một cơ quan độc lập chịu trách nhiệm giám sát quá trình thi hành Luật Tiếp cận thông tin, có đủ quyền lực để yêu cầu các bộ, ban, ngành và kể cả Quốc hội thi hành quyết định của mình như ICO ở Vương quốc Anh cũng là một vấn đề cần suy nghĩ nghiêm túc. Về thời hạn đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin của người dân, dự thảo Luật của ta quy định chỉ có một tuần, so với ở Vương quốc Anh là 20 ngày. Tôi e rằng thời hạn này không có tính khả thi.

Theo tôi biết, bản dự thảo Luật Tiếp cận thông tin đã hoàn thành, và lẽ ra đã được trình tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII từ ngày 20-5 đến 24-6 năm nay nhưng có lẽ do còn một số điểm cần thảo luận thêm nên chưa thấy trình Quốc hội theo kế hoạch.

Rồi đây khi đạo luật được ban hành, người dân sẽ có thêm cơ sở pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của mình, ở đây là quyền đương nhiên được biết, được hỏi và được đáp ứng yêu cầu về thông tin.
Mặc dù dự thảo Luật Tiếp cận thông tin của ta được soạn theo hướng tương thích với quan niệm và quy định về quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận của các công ước, điều ước quốc tế và Luật Tự do thông tin của các nước trên thế giới, nhưng vẫn cần làm rõ thêm một số nội dung như quyền tự do lưu giữ và tự do truyền đạt thông tin dưới mọi hình thức.
Tôi cũng tin tưởng rằng Luật Tiếp cận thông tin chắc chắn sẽ làm cho chính quyền hoạt động minh bạch hơn, hiệu quả hơn. Liệu có quan chức nào dám không thận trọng với lời nói và hành động của mình khi phải đối mặt với những câu hỏi của người dân như: anh đã ở khách sạn loại gì khi đi công tác, anh đi xe gì, thu nhập ra sao, hiệu quả công việc thế nào…?

Luật cũng sẽ góp phần chấm dứt tình trạng các cơ quan chính quyền thiếu chủ động hoặc chậm trễ trong việc công bố các chương trình, kế hoạch hành động ảnh hưởng đến lợi ích của số đông người dân hoặc có những phát ngôn hoàn toàn sai lầm về nhận thức như cho rằng việc này hay việc nọ ngoài tầm hiểu biết của người dân nên không cần thông tin, không cần hỏi ý kiến.
Thái Thanh ghi