Hiển thị các bài đăng có nhãn Triều Trần. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Triều Trần. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

TINH THẦN "SÁT THÁT" CÓ ĐI VÀO DỰ THẢO LUẬT TRƯNG CẦU DÂN Ý?


Hồn ‘Sát Thát’ có được đi vào 
Dự thảo luật Trưng cầu dân ý?
 
Cát Linh, phóng viên RFA
RFA -    2015-08-19

Dự luật Trưng cầu dân ý vừa qua đã được đề cập và thảo luận tại Uý ban thường vụ quốc hội. Đây không phải là lần đầu tiên nhà nước Việt Nam đưa ra dự thảo luật trưng cầu dân ý. Trong lịch sử, hơn 700 năm trước, Việt Nam đã từng có hội nghị Bình Than, hội nghị Diên Hồng, sau đó là trưng cầu dân ý 1955. Những cuộc trưng cầu dân ý trong lịch sử và trong dự thảo luật của xã hội hiện đại có cùng tính chất hay không?


Những ‘cuộc trưng cầu dân ý’ năm xưa

“Nếu chấp nhận hoà với quân giặc nghĩa là mất tất cả. Còn như nếu toàn dân đồng lòng liều chết để đánh thì có thể giữ được tất cả. vậy, Đại Việt nên hoà hay nên đánh?”(Trích Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên)

Sau câu hỏi ấy, tiếng hô vang trời ‘”Quyết đánh” đã làm rung chuyển cung điện Diên Hồng, ghi một dấu ấn vào đường lối chính trị của lịch sử Việt Nam. Chỉ một tiếng hô “Đánh!” hay “Không đánh!” từ những các bậc phụ lão, người đại biểu của dân, hội nghị Diên Hồng xảy ra vào tháng Chạp năm Giáp Thân (1284), là thể hiện của một triều đại được cai trị bằng ý thức tin vào sức mạnh và trí tuệ của người dân.

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn thư, bản kỷ toàn thư quyển 5, Nhà sử học Ngô Sĩ Liên có viết rằng: “Thượng hoàng triệu phụ lão trong nước họp ở thềm hội nghị Diên Hồng, ban yến tiệc và hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão đều nói ‘đánh’, muôn người cùng hô một tiếng, như bật ra từ một cửa miệng.”

Hội nghị Diên Hồng được xem như là hội nghị dân chủ đầu tiên có từ thời đất nước mang tên Đại Việt. Tuy những vị bô lão lúc ấy không phải là người đưa ra quyết định cuối cùng, mà là Thượng hoàng Trần Thánh Tông và hoàng đế Trần Nhân Tông. Tuy nhiên, điều này đã thể hiện rõ tính dân chủ trong cách trị nước ngày xưa của ông cha ta. Đó là lấy dân làm gốc.

“Giặc Hồ vào cướp nước là nạn lớn nhất của đất nước. Hai vua hiệp mưu, bầy tôi họp bàn há lại không có kế sách gì chống giặc mà phải đợi đến ban yến hỏi kế ở các phụ lão hay sao? Là vì Thánh Tông muốn làm thế để xét lòng thành ủng hộ của dân chúng, để dân chúng nghe theo lời dụ hỏi mà cảm kích hăng hái lên thôi. Đó là giữ được cái nghĩa người xưa nuôi người già để xin lời hay vậy.” (Trích Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ toàn thư quyển 5)

Tôi nghĩ rằng câu chuyện về hội nghị Diên Hồng diễn ra ở thời kỳ nhà Trần nó mang tính chất biểu trưng cho việc người lãnh đạo đất nước hỏi ý kiến người dân.

Dương Trung Quốc
Có cái nhìn tương đồng trong tính chất của sự kiện lịch sử này, nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết:

“Tôi nghĩ rằng câu chuyện về hội nghị Diên Hồng diễn ra ở thời kỳ nhà Trần nó mang tính chất biểu trưng cho việc người lãnh đạo đất nước hỏi ý kiến người dân. Tuy nhiên đối với người xưa thì là hỏi những vị bô lão, những người có uy tín trong xã hội để hoạch định những chiến sách, quốc sách có ý nghĩa quan trọng với quốc gia.”

‘Diên Hồng’ trong hiện tại

700 năm sau, sau khi câu chuyện Diên Hồng trong lịch sử diễn ra với nước Đại Việt, trưng cầu dân ý đã trở thành một công cụ cho các chính khách của các quốc gia trên toàn thế giới. Việt Nam từng đưa ra luật trưng cầu dân ý trong hiến pháp năm 1946, nhưng chỉ là trên văn bản, chưa thông qua quốc hội và chưa đi vào thực tế cuộc sống.

Cho năm 1955, miền Nam Việt Nam có cuộc tổng tuyển cử nhằm truất phế vua Bảo Đại để ông Ngô Đình Diệm lên nắm quyền. Đây là cuộc trưng cầu dân ý được nhà sử học Dương Trung Quốc cho là quan trọng nhất và thật sự đúng nghĩa nhất trong lịch sử Việt Nam.

Từ đó cho đến nay, nhà nước Việt Nam có thêm hai lần thực hiện việc gọi là trưng cầu dân ý, đó là dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 và 2013. Thế nhưng, giáo sư Tạ Văn Tài, người từng giảng dạy môn Luật Quốc tế ở đại học Havard thì ông không nghĩ rằng hai lần hỏi ý kiến trước đây là cuộc trưng cầu dân ý đúng nghĩa.

“Thật ra, đứng về phương diện luật, hiến pháp, những lần hỏi ý kiến trước, thí dụ về bộ luật hình sự hay hiến pháp thì không phải là một cuộc trưng cầu dân ý, chỉ là một cuộc thăm dò dư luận thôi. Còn trưng cầu dân ý là một biện pháp mà theo luật hiến pháp trên thế giới của các nước là có một cuộc bầu phiếu, rồi đếm số phiếu đó xem bao nhiêu số phiếu đồng ý trong quả đại quần chúng, chứ chưa hề có 1 cuộc trưng cầu dân ý nào rộng rãi theo đúng nghĩa của luật pháp tại Việt Nam.”

Tôi không quan tâm mấy đến vấn đề cái gọi là luật trưng cầu ý dân. vì tôi cho rằng cái quan trọng là cái nền tảng mà dân chủ văn minh tiến bộ của 1 xã hội mới là quyết định. Còn nền tảng của một xã hội mà không có sự văn minh tiến bộ thì những luật đó cũng chỉ là những tờ giấy lộn thôi

Tiến sĩ Trần Nhơn
Hai lần “trưng cầu dân ý” đó, theo cách gọi của nhà cầm quyền Việt Nam, cũng là hình thức mà nhà nước đặt ra câu hỏi, và những bô lão bây giờ là công dân trong xã hội, trả lời, biểu quyết, bằng lòng hay không bằng lòng, thuận hay không thuận. Thế nhưng, nếu những tiếng hét vang dội điện Diên Hồng năm xưa đã giúp hoàng đế Trần Nhân Tông biến thành sức mạnh ý chí dân chủ bảo vệ và xây dựng đất nước, thì những ‘vị bô lão” ngày nay đã đặt luật trưng cầu dân ý ấy sang một vấn đề khác cần được xem trọng hơn. Tiến sĩ Trần Nhơn, nguyên Thứ trưởng bộ Thuỷ lợi quan tâm đến cái mà ông gọi là nền tảng quyết định:

Quốc hội họp cho ý kiến về dự luật Biểu tình và Trưng cầu ý dân hồi tháng 5, 2015. 
Ảnh minh họa Hoàng Ngọc

“Tôi không quan tâm mấy đến vấn đề cái gọi là luật trưng cầu ý dân. vì tôi cho rằng cái quan trọng là cái nền tảng mà dân chủ văn minh tiến bộ của 1 xã hội mới là quyết định. Còn nền tảng của một xã hội mà không có sự văn minh tiến bộ thì những luật đó cũng chỉ là những tờ giấy lộn thôi.”

Theo ông Trần Nhơn, sự văn minh, tiến bộ của người dân là do họ nhận được đầy đủ thông tin ngược chiều lẫn xuôi chiều từ chính quyền và truyền thông. Không những thế mà họ phải nhận được sự hướng dẫn và phân tích đúng về những gì cần hỏi ý kiến từ họ.

So sánh với hội nghị Diên Hồng trong lịch sử, ông Trần Nhơn cho rằng người đứng đầu nước Đại Việt lúc đó đã có quyến định “Đánh!”. Trưng cầu dân ý là một hình thức chuyển thể ý kiến của vua trở thành ý kiến của nhân dân, và quan trọng là biến thành sức mạnh của toàn dân, được toàn dân ủng hộ biểu quyết.

“Tôi chưa cần thiết đặt vấn đề trưng cầu ý dân. Mà cái quan trọng tôi là người trong bộ máy nhà nước thì tôi đã biết được ý dân thế nào rồi. Nếu trưng cầu thì trưng cầu cho vui thôi, đã nắm được ý dân thế nào rồi. Và tôi phải làm sao để dân nắm được hết thông tin ngược chiều, xuôi chiều để có trưng cầu thì nó mới đúng. Chứ 1 nhà nước độc tài, toàn trị thì có cho truyền thông 1 cách cân xứng thông tin không?”

Tập quán xã hội

Cũng liên quan đến hình thức thực hiện, nhà sử học Dương Trung Quốc không chú trọng nội dung, mà ông cho rằng kỹ thuật thực hiện mới là quan trọng.

“Thí dụ như cách đặt câu hỏi có khách quan không? Hay cách tổ chức để người dân thực sự bày tỏ quan điểm của mình hay không hay chỉ là một hình thức người ta đi bỏ phiếu, làm cho xong việc của họ thôi chứ họ không tin tưởng vào ý kiến của họ sẽ được tiếp thu 1 cách nghiêm túc.”

Những vị bô lão của Diên Hồng đưa ra ý kiến “Đánh!”, người quyết định là hoàng đế Đại Việt. Còn ngày nay, hàng triệu người dân có ý kiến, thì ai là người quyết định? Đó sẽ là địa phương? Hay trung ương? Nếu trung ương thì sẽ là ai? Kết quả được thực thi thế nào? Người dân cần phải biết.

Với những dự thảo luật quan trọng như hiến pháp, luật hình sự, và trên hết là luật trưng cầu dân ý, thì phải chăng người dân cần có một cơ chế kiểm soát, và thẩm định chính xác để mọi người có niềm tin là quyền dân chủ của mình được thực hiện đúng?

Và theo tinh thần những đóng góp mà bạn đọc và khán thính giả của Đài Á Châu Tự Do gửi cho chúng tôi, câu hỏi lớn nhất vẫn là có hy vọng câu chuyện Diên Hồng, hay nói cách khác, là tinh thần Sát Thát của Diên Hồng sẽ được đi vào xã hội ngày nay?

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

COPY MÔ HÌNH CHÍNH TRỊ TRUNG HOA - CÀNG GIỐNG, CÀNG MAU SỤP

 Tiến sĩ Phạm Đức Anh đang thuyết trình

Sáng 21/07/2015, Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc VEPR (VCES), Mạng lưới học giả Việt Nam (VSN) và Viện Kinh tế và Chính trị thế giới (IWEP) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã Hội Việt Nam phối hợp tổ chức Seminar Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược Trung Quốc số 07 với chủ đề: 
“Sự tiếp nhận mô hình chính trị Trung Hoa 
của các chính quyền phong kiến Việt Nam: 
Những kinh nghiệm và bài học lịch sử” 

nhằm tìm hiểu quá trình biến đổi của mô hình tổ chức Nhà nước ở Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, qua đó chỉ ra sự tiếp nhận, mô phỏng từ mẫu hình Trung Hoa.

Diễn giả: TS Phạm Đức Anh, ĐH Quốc gia Hà Nội.
Thời gian: 08h30 – 10h30 ngày 21/07/2015
Địa điểm: Hội trường tầng 2, Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội.

Đông đảo các nhà khoa học và sinh viên đến từ nhiều viện nghiên cứu, trường đại học; các nhà nghiên cứu độc lập, dịch giả tự do đã tham dự buổi thuyết trình. Tiến sĩ Phạm Đức Anh (sinh năm 1980) là một nhà nghiên cứu trẻ, vừa bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về đề tài nghiên cứu này hồi năm ngoái, và hiện đang là giảng viên Khoa Lịch sử, Đại học KHXH và Nhân văn Hà Nội (ĐH Quốc gia HN). Anh trình bày bằng giọng nói trầm ấm, rõ ràng và khúc chiết trong khoảng 45 phút. Cử tọa hết sức chú ý lắng nghe.

Phần trình bày của TS Phạm Đức Anh, xin xem các hình ảnh bên dưới.














Từ việc nghiên cứu sự tiếp nhận mô hình chính trị Trung Hoa của các chính quyền phong kiến Việt Nam, TS Phạm Đức Anh rút ra bài học kinh nghiệm là "Mô hình nào càng giống bên ngoài (ở đây là Trung Hoa - L.K chú), càng kém bền vững". Ba triều đại đã mô phỏng từ Trung Hoa nhiều nhất, triệt để nhất là  triều Hồ, triều Lê Sơ và triều Nguyễn (từ 1802 đến 1858) đều kém bền vững, tồn tại ngắn ngủi và mau sụp đổ. 

Phần thảo luận trở nên rất sôi nổi, ngoài các phát biểu chệch ra ngoài nội dung học thuật, đáng chú ý có các ý kiến sau:

1- TS Phạm Gia Minh nêu nhận xét về việc người Nhật Bản và Hàn Quốc học mô hình Trung Hoa nhưng không bị lệ thuộc vào mô hình. Người Nhật học cần cù nhưng luôn sáng tạo và thoát Trung ngay trong khi học từ Trung Hoa. Là vì sao? 

- TS Phạm Đức Anh trả lời là vì Nhật ở ngoài biển, cách xa về địa lý nên có sự độc lập để từ đó ít lệ thuộc.

2- GS Lưu Bích Hồ cho rằng, diễn giả đã thiếu sót khi không trình bày thế nào là Mô hình chính trị Trung Hoa, mô hình này gồm những thành tố nào và có đặc trưng gì? Diễn giả trình bày thẳng vào vấn đề tiếp nhận mô hình chính trị Trung Hoa mà không có giới thuyết như vậy là chưa được khoa học.

3. TS Nguyễn Xuân Diện hỏi diễn giả: 

Xin cung cấp cho biết, tư liệu mà diễn giả nói là các vua ngày xưa có chỉ dụ cho các sứ thần (phái đoàn ngoại giao) sang Trung Hoa phải ghi chép, học tập về mô hình quản lý và chính trị về báo cáo lại cho nhà vua là ở tư liệu nào? 

Sự tiếp nhận nhưng làm khác đi, đó có phải là cách phi Hoa, giải Hoa không? Hay chỉ là làm cho khác đi để cho khác người một chút thôi?

Thời đại nào trong quá khứ được cho là tiếp thu một cách sáng tạo và thành công mô hình chính trị Trung Hoa? Và vì sao lại được như vậy?

- TS Phạm Đức Anh trả lời ghi chép về việc các vua ngày xưa có chỉ dụ cho các sứ thần (phái đoàn ngoại giao) sang Trung Hoa tìm mua sách vở, điển chế đem về nước tôi dẫn lại từ chuyên khảo của một học giả nước ngoài (có dẫn tên sách và tác giả), ở đây là vua Minh Mạng, triều Nguyễn. 

Trong quá khứ, thời đại Lý - Trần là thời đại mà Việt Nam tiếp thu một cách sáng tạo, hiệu quả mô hình chính trị Trung Hoa. 

+ TS Nguyễn Xuân Diện trao đổi thêm: 

Về việc sử dụng tư liệu, theo tôi là phải dùng tài liệu gốc, không nên dùng tài liệu thứ cấp, chuyển dẫn lại. Đáng lẽ Tiến sĩ phải đến Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tìm vào ngay bản gốc để dịch và dẫn cho chính xác. Theo tôi biết, chưa từng có vua nào giao cho sứ thần công việc ghi chép, học tập về mô hình quản lý và chính trị về báo cáo lại cho nhà vua. Ngày xưa việc đi sứ Trung Hoa chỉ là tuế cống, cầu phong. Cũng có khi vua khẩu dụ (dặn dò trước khi lên đường) các sứ thần nhớ vẽ lại bản đồ đường đi, tìm hiểu dân tình và phong tục mà thôi. Xưa không hề có đoàn cán bộ như đoàn của Bà Nguyễn Thị Kim Ngân đi thăm Đại học Harvard để tìm hiểu cách cải cách thể chế mới đây.

Còn về thời Lý Trần thì tôi hoàn toàn tán thành kết quả nghiên cứu này. Theo tôi, thời đại Lý - Trần học được mô hình chính trị Trung Hoa, nhưng có nhiều sáng tạo, nhiều thành tựu, nhiều thành công là bởi vì Lý - Trần là thời đại của ĐA NGUYÊN và Khai phóng. 

Đa nguyên về chính trị (các thủ lĩnh tôn giáo Nho - Phật - Lão được vua mời vào cung bàn chính sự và tham khảo kế sách), 

Đa nguyên về tôn giáo (Nho - Thích - Đạo tịnh hành, cùng phát triển), 

Đa nguyên về văn hóa (Văn hóa Lý - Trần tiếp thu từ Trung Hoa - Ấn Độ và Chàm).

Chính Đa nguyên và Khai phóng khiến cho thời đại Lý Trần trở thành một thời đại thịnh trị, rực rỡ võ công, văn trị, được coi là một thời đại hoàng kim trong lịch sử trung đại Việt Nam. 

P/S: Được thi triển qua tinh thần:
- Hòa quang đồng trần
- Thượng mã đề thương, hạ mã đề thi
- Học phong Đông A 
- Tam giáo tịnh hành 

4- Nhà văn Dịch giả lão thành Trần Đình Hiến nói về văn hóa Trung Hoa và mô hình chính trị Trung Hoa xưa và nay là một chế độ độc tài. 

5- GS. TS Đỗ Tiến Sâm phát biểu: Chỉ có 3 yếu tố khiến xã hội phát triển và VN cũng không ngoại lệ. Đó là: 1- Công nghệ, 2- Con người và 3 - Thể chế. Công nghệ có thể mua, Con người có thể thuê, đào tạo, nhưng Thể chế thì phải tự thân. Thể chế sẽ quyết định sự phát triển của đất nước!

6- Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhất trí với nhận xét của GS Đỗ Tiến Sâm (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc), đánh giá buổi tọa đàm là thú vị, nhiều thông tin, nhiều giá trị học thuật và thực tiễn, đồng thời mong muốn được tiếp tục nghe các kết quả nghiên cứu nữa xung quanh chủ đề này.

Cuộc tọa đàm kết thúc vào hồi 10h45 cùng ngày.

Lâm Khang lược thuật.