Hiển thị các bài đăng có nhãn học thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn học thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

THẢO LUẬN VỚI GIÁO SƯ LIAM C KELLEY VỀ TRIẾT GIA KIM ĐỊNH

THẢO LUẬN VỚI GIÁO SƯ LIAM C KELLEY 
VỀ TRIẾT GIA KIM ĐỊNH

Hà Văn Thùy 


Ông Hà Văn Thùy
Từ Cali, nhà nghiên cứu Việt Nhân Nguyễn Cảnh Hậu chuyển cho tôi bài viết của Giáo sư L.C.Kelley về học giả Kim Định, qua bản dịch của Trà Mi, nhan đề: “Sử gia lớn nhất (không ai biết đến/không được công nhận) của Việt Nam.”* Ông không quên kèm theo nhận xét: “Ông này chỉ mới nhận được cái ngọn mà chưa hiểu tận cái gốc của Con Người và Tinh thần Dân tộc Việt Nam. Kim Định nhờ tinh thần triết học Đông phương tức là triết lý An Vi mới khai quật lên được nền Văn hoá độc đáo Việt Nam. Kim Định không phải là một sử gia.”

Đồng ý với nhà Kim Định học lão thành, tôi cho rằng, Kim Định không phải là sử gia. Bởi lẽ, mở đầu cuốn sử của mình, ông viết: “ Sống sót sau bốn lần băng giá, khoảng 500.000 năm trước, loài người tập trung ở phía nam dải Thiên Sơn. Những người đi về phía tây trở thành tổ tiên người da trắng. Người đi về phía đông trở thành tổ tiên các tộc người Việt, Hán, Hồi, Mông, Mãn. Người Việt theo ngọn sông Dương Tử vào chiếm 18 tỉnh của Trung Quốc. Người Hán theo phương thức du mục lang thang trên cao nguyên Thanh Hải lúc đó còn là phúc địa. Về sau vượt sông Hoàng Hà vào chiếm đất của người Việt…” “Người Hán đuổi người Việt chạy có cờ qua sông Dương Tử rồi quay về chế ra chữ Việt bộ Tẩu phỉ báng người Việt.”


Nếu là sử gia, thì với tri thức sai lạc như thế, sự nghiệp Kim Định đã sụp đổ. Có lẽ do biết trước sự thể nên đã hơn một lần ông tuyên bố: “Những gì liên quan tới chứng cứ lịch sử, nhiều lắm cũng chưa tới 10% đề xuất của tôi. Nếu có sai đi nữa thì những gì còn lại là Việt nho và đạo Việt An vi mới là đóng góp quan trọng nhất.” Điều đó chứng tỏ, Kim Định ý thức được đóng góp của mình cho học thuật và hoàn toàn không nhận là sử gia.

Tôi cũng không chia sẻ với Giáo sư Kelley khi ông cho rằng “không ai biết” tới Kim Định. Ngược lại, sự thật là, vào đầu thập niên 1970, sinh viên nô nức ghi tên học các khóa ông giảng và tác phẩm Kim Định là “sách gối đầu giường” của học sinh sinh viên miền Nam. Thuyết Việt Nho thành tư tưởng thời thượng, in sâu trong tâm khảm một lớp người. Sau năm 1975, học trò của Kim Định lập Hội An Việt ở nhiều nước phương Tây, in sách báo, dựng đài phát thanh quảng bá tư tưởng Thầy. Trong nước Việt Nam, tuy sách của Kim Định bị cấm nhưng vẫn có người tìm đọc. Và hôm nay, tư tưởng Kim Định lan tỏa rộng rãi trong cộng đồng. Tháng 7 năm 2012, tại Văn miếu Quốc tử giám, Lễ tưởng niệm 15 năm ngày mất của Kim Định được tổ chức trọng thể. Và đầu tháng Bảy năm nay, cũng tại Hà Nội, Lễ tưởng niệm 100 năm ngày sinh triết gia Kim Định được tổ chức. 

.
Điều này thì vị giáo sư Đại học Manoa nói đúng: Kim Định không được công nhận! Bốn mươi năm nay, Kim Định không được chính thức công nhận mà chỉ là một thứ hoa dại sống giữa nhân gian.

Tuy vậy thưa Giáo sư, cũng không phải như ông nói: “không ai có thể nhìn thấy thiên tài trong những gì ông (KĐ) đã làm.” Từ lâu người Việt Nam đã nhận ra thiên tài ở Kim Định. Không chỉ là “lời nói gió bay” mà được định hình bằng văn tự. Nhưng tôi đồng ý với ông là Kim Định “đã đẩy tư tưởng của mình đi quá xa.” Một trong thao tác làm việc của Kim Định là từ tâm lý miền sâu, từ chiều sâu tâm linh để giải mã huyền thoại rồi suy luận, tưởng tượng. Nếu từng sản sinh ra kết luận thiên tài, thì sự tưởng tượng ấy cũng lắm lúc đẻ ra quái vật! Có thể nhặt ra hàng đống sạn trong sách Kim Định mà Loa Thành Đồ Thuyết là một thí dụ. Nhưng dù vậy, Kim Định vẫn quá lớn lao, vẫn vô cùng vĩ đại! 

.
Ông Liam C. Kelley
Giáo sư Kelley viết: “Thế vấn đề với các tác phẩm của Kim Định là gì? Nó cũng giống như vấn đề với học thuật của Marcel Granet. Kim Định đã không phân biệt giữa văn bản. Đối với ông, những gì đã được viết trong Sử ký của Tư Mã Thiên hoặc Kinh Thi (cả hai từ thời BC) cũng giống như những gì đã được viết trong Lĩnh Nam chích quái ở thế kỷ thứ mười lăm, v.v… Thông tin trong tất cả các văn bản đó đều có thể được sử dụng để chứng minh sự hiện hữu của một “cấu trúc” của nghĩa ẩn dưới những văn bản này. Đó là vấn đề.”

Người từng theo dõi những bài viết của Kelley sẽ thấy, ông vẫn loay hoay với ý tưởng lẩn thẩn rằng Lĩnh Nam chích quái vô giá trị vì chỉ được viết vào thế kỷ XV, là sản phẩm của đám trí thức Hán hóa người Việt tân tạo theo sách Trung Hoa! Chính do thiếu chiều sâu lịch sử và văn hóa phương Đông nên ông không hiểu được rằng, từng có nhà nước Lương Chử – Xích Quỷ xuất hiện 3000 năm TCN. Đó là một nhà nước vĩ đại không chỉ về văn minh mà còn về quy mô, chiếm hơn nửa diện tích và dân số Trung Hoa. Sau hơn 1000 năm tồn tại, bị phân rã do tác động của vương triều Hạ, người Lương Chử-Xích Quỷ di tản tới Việt Nam, Tứ Xuyên, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ… mang theo truyền thuyết gốc của tổ tiên mình về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ với một bọc trăm trứng. Câu chuyện Kinh Dương Vương vang bóng trong huyền thoại Tứ Xuyên, Thái Lan, Miến Điện. Một bọc trăm trứng đã vào kinh Phật. Tại Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nó sống lâu dài trong văn chương truyền miệng để rồi được ghi lại vào thế kỷ XV. Như vậy, tuy được chép muộn hơn nhưng tính chân thực của câu chuyện không hề thua kém so với Sử ký! Nhiều sử gia trước đây đã tin như thế. Chỉ vì cố tỏ ra độc đáo khác người, ông giáo sư đã hoang tưởng!

Về câu: “Tuy nhiên, con đường trí tuệ dẫn ông đến kết luận này đã đi qua một số tư tưởng học thuật vĩ đại nhất của thế kỷ XX,”

Đúng là Kim Định đã tiếp thu những tinh hoa trí tuệ thời đại ông như Granet, Lévi-Strauss … Nhưng một vấn đề được đặt ra: sách của các vị này dành cho mọi người mà vì lẽ gì chỉ Kim Định phát huy hiệu năng cao nhất? Điều này, học giả phương Tây khó lòng hiểu nổi! Từ hàng chục năm nay, những người nghiên cứu Kim Định nhận ra rằng, tri thức Tây học chỉ là chất xúc tác giúp Kim Định bộc lộ phẩm tính riêng, đó là khả năng lãng du về ký ức miền sâu, có thể bao gồm cả thiền định để giải mã những truyền thuyết, huyền thoại cùng huyền sử, khám phá những bí ẩn tận cùng của lịch sử, văn hóa! Đấy chính là cái làm nên thiên tài của Kim Định.

Giáo sư L.C.Kelley viết:

“Kim Định có một số tuyên bố táo bạo trong các thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 đưa sự hiểu biết của chúng ta về lịch sử Việt Nam (quá xa) về phía trước, nhưng kể từ thời điểm đó đã không có người nào có những kiến ​​thức về lý thuyết như Kim Định, vì vậy đã không một thách thức, hoặc chỉnh sửa tư tưởng của Kim Định nào hết. Kết quả là tư tưởng Kim Định hoặc đã bị gạt bỏ hoặc bị nhạo báng, hoặc ý tư tưởng của ông đã bị hiểu lầm.

Đây là một điều xấu hổ, vì Kim Định, tôi cho là sử gia Việt Nam duy nhất trong thời hiện đại, người đã thực sự đi đến một giải thích mới về lịch sử thời sơ khai của nước Việt (Nam).”

Tôi không chia sẻ với ông ý tưởng “Kim Định có một số tuyên bố táo bạo trong các thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 đưa sự hiểu biết của chúng ta về lịch sử Việt Nam (quá xa) về phía trước.” Cái lịch sử mà Kim Định đề cập không phải lịch sử Việt Nam mà là lịch sử của tộc Việt, cụ thể là Bách Việt. Tộc người từng mang tên Tam Miêu, vào chiếm lĩnh đất Trung Hoa trước nhất. Còn về lịch sử Việt Nam, Kim Định cũng không vượt qua giới hạn của thời ông sống: “Người Việt Nam là dòng duy nhất trong Bách Việt do có được lãnh thổ riêng nên giữ đựơc độc lập, không bị Hán hóa.” Tuy nhiên, một lịch sử như vậy của cả Việt Nam lẫn Bách Việt cũng xưa rồi. Thực tế lịch sử còn “xa” hơn cả sự tưởng tưởng của thiên tài Kim Định!

Tuy vậy, phần sau của đoạn trích đáng được chia sẻ. Sự thực là, kết hợp tinh hoa tri thức thời đại với phẩm tính riêng, Kim Định đã dựng cho mình một đỉnh cao trí tuệ mà các học giả cùng thời chỉ mon men nơi chân núi. Người yêu ông không đủ chứng lý bảo vệ ông. Người ghét ông càng không có cơ sở vững chắc để phủ nhận. Kim Định không có người đối thoại. Vì vậy, tình trạng “đáng xấu hổ” như ông Kelley nói, đã xảy ra. Chỉ sang thế kỷ này, khi trí tuệ nhân loại sáng lập đỉnh cao mới thì chúng ta mới có điều kiện thực sự để cọ xát với Kim Định. Hóa ra, toàn bộ giá trị “sử gia” của Kim Định chỉ còn một câu duy nhất: “người Việt chiếm lĩnh Trung Hoa trước.” Nhưng đúng là “trên cả tuyệt vời” khi thực tế được khám phá đã hơn cả điều Kim Đinh tưởng tượng: không phải từ Tây Tạng xuống mà người Việt từ Việt Nam mang rìu đá, giống lúa, giống kê, giống gà, giống chó… đi lên chinh phục đất Trung Hoa. Mặc nhiên, luận thuyết vẫn bị nhạo báng, coi là “lâu đài cất bằng hơi nước” của Kim Định được xác lập cơ sở khoa học!

Một mùa hè nhập môn Kim Định học, bản thu hoạch của Giáo sư L.C. Kelley hơi bị “khiêm tốn”. Điều này dễ hiểu vì lâu đài trí tuệ Kim Định dựng lên không chỉ có quy mô quá lớn về câu chữ mà điều quan trọng là quá uyên áo, như một mê cung, nhiều tầng nhiều lớp… khiến cho người duy lý phương Tây khó nắm bắt. Giáo sư Kelley có lẽ là học giả phương Tây đầu tiên mạo hiểm tiếp cận. Cũng dễ hiểu khi khám phá của ông mới dừng lại ở bề ngoài. Điều đáng ghi nhận là ông đã tới với Kim Định bằng tấm lòng thành. Ta cảm ơn ông ở chỗ đó!

Sài Gòn, tháng 6 năm 2015.
H.V.T

_____

*http://dcvonline.net/2015/06/25/su-gia-lon-nhat-khong-ai-biet-denkhong-duoc-cong-nhan-cua-viet-nam/

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

COPY MÔ HÌNH CHÍNH TRỊ TRUNG HOA - CÀNG GIỐNG, CÀNG MAU SỤP

 Tiến sĩ Phạm Đức Anh đang thuyết trình

Sáng 21/07/2015, Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc VEPR (VCES), Mạng lưới học giả Việt Nam (VSN) và Viện Kinh tế và Chính trị thế giới (IWEP) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã Hội Việt Nam phối hợp tổ chức Seminar Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược Trung Quốc số 07 với chủ đề: 
“Sự tiếp nhận mô hình chính trị Trung Hoa 
của các chính quyền phong kiến Việt Nam: 
Những kinh nghiệm và bài học lịch sử” 

nhằm tìm hiểu quá trình biến đổi của mô hình tổ chức Nhà nước ở Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, qua đó chỉ ra sự tiếp nhận, mô phỏng từ mẫu hình Trung Hoa.

Diễn giả: TS Phạm Đức Anh, ĐH Quốc gia Hà Nội.
Thời gian: 08h30 – 10h30 ngày 21/07/2015
Địa điểm: Hội trường tầng 2, Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội.

Đông đảo các nhà khoa học và sinh viên đến từ nhiều viện nghiên cứu, trường đại học; các nhà nghiên cứu độc lập, dịch giả tự do đã tham dự buổi thuyết trình. Tiến sĩ Phạm Đức Anh (sinh năm 1980) là một nhà nghiên cứu trẻ, vừa bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về đề tài nghiên cứu này hồi năm ngoái, và hiện đang là giảng viên Khoa Lịch sử, Đại học KHXH và Nhân văn Hà Nội (ĐH Quốc gia HN). Anh trình bày bằng giọng nói trầm ấm, rõ ràng và khúc chiết trong khoảng 45 phút. Cử tọa hết sức chú ý lắng nghe.

Phần trình bày của TS Phạm Đức Anh, xin xem các hình ảnh bên dưới.














Từ việc nghiên cứu sự tiếp nhận mô hình chính trị Trung Hoa của các chính quyền phong kiến Việt Nam, TS Phạm Đức Anh rút ra bài học kinh nghiệm là "Mô hình nào càng giống bên ngoài (ở đây là Trung Hoa - L.K chú), càng kém bền vững". Ba triều đại đã mô phỏng từ Trung Hoa nhiều nhất, triệt để nhất là  triều Hồ, triều Lê Sơ và triều Nguyễn (từ 1802 đến 1858) đều kém bền vững, tồn tại ngắn ngủi và mau sụp đổ. 

Phần thảo luận trở nên rất sôi nổi, ngoài các phát biểu chệch ra ngoài nội dung học thuật, đáng chú ý có các ý kiến sau:

1- TS Phạm Gia Minh nêu nhận xét về việc người Nhật Bản và Hàn Quốc học mô hình Trung Hoa nhưng không bị lệ thuộc vào mô hình. Người Nhật học cần cù nhưng luôn sáng tạo và thoát Trung ngay trong khi học từ Trung Hoa. Là vì sao? 

- TS Phạm Đức Anh trả lời là vì Nhật ở ngoài biển, cách xa về địa lý nên có sự độc lập để từ đó ít lệ thuộc.

2- GS Lưu Bích Hồ cho rằng, diễn giả đã thiếu sót khi không trình bày thế nào là Mô hình chính trị Trung Hoa, mô hình này gồm những thành tố nào và có đặc trưng gì? Diễn giả trình bày thẳng vào vấn đề tiếp nhận mô hình chính trị Trung Hoa mà không có giới thuyết như vậy là chưa được khoa học.

3. TS Nguyễn Xuân Diện hỏi diễn giả: 

Xin cung cấp cho biết, tư liệu mà diễn giả nói là các vua ngày xưa có chỉ dụ cho các sứ thần (phái đoàn ngoại giao) sang Trung Hoa phải ghi chép, học tập về mô hình quản lý và chính trị về báo cáo lại cho nhà vua là ở tư liệu nào? 

Sự tiếp nhận nhưng làm khác đi, đó có phải là cách phi Hoa, giải Hoa không? Hay chỉ là làm cho khác đi để cho khác người một chút thôi?

Thời đại nào trong quá khứ được cho là tiếp thu một cách sáng tạo và thành công mô hình chính trị Trung Hoa? Và vì sao lại được như vậy?

- TS Phạm Đức Anh trả lời ghi chép về việc các vua ngày xưa có chỉ dụ cho các sứ thần (phái đoàn ngoại giao) sang Trung Hoa tìm mua sách vở, điển chế đem về nước tôi dẫn lại từ chuyên khảo của một học giả nước ngoài (có dẫn tên sách và tác giả), ở đây là vua Minh Mạng, triều Nguyễn. 

Trong quá khứ, thời đại Lý - Trần là thời đại mà Việt Nam tiếp thu một cách sáng tạo, hiệu quả mô hình chính trị Trung Hoa. 

+ TS Nguyễn Xuân Diện trao đổi thêm: 

Về việc sử dụng tư liệu, theo tôi là phải dùng tài liệu gốc, không nên dùng tài liệu thứ cấp, chuyển dẫn lại. Đáng lẽ Tiến sĩ phải đến Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tìm vào ngay bản gốc để dịch và dẫn cho chính xác. Theo tôi biết, chưa từng có vua nào giao cho sứ thần công việc ghi chép, học tập về mô hình quản lý và chính trị về báo cáo lại cho nhà vua. Ngày xưa việc đi sứ Trung Hoa chỉ là tuế cống, cầu phong. Cũng có khi vua khẩu dụ (dặn dò trước khi lên đường) các sứ thần nhớ vẽ lại bản đồ đường đi, tìm hiểu dân tình và phong tục mà thôi. Xưa không hề có đoàn cán bộ như đoàn của Bà Nguyễn Thị Kim Ngân đi thăm Đại học Harvard để tìm hiểu cách cải cách thể chế mới đây.

Còn về thời Lý Trần thì tôi hoàn toàn tán thành kết quả nghiên cứu này. Theo tôi, thời đại Lý - Trần học được mô hình chính trị Trung Hoa, nhưng có nhiều sáng tạo, nhiều thành tựu, nhiều thành công là bởi vì Lý - Trần là thời đại của ĐA NGUYÊN và Khai phóng. 

Đa nguyên về chính trị (các thủ lĩnh tôn giáo Nho - Phật - Lão được vua mời vào cung bàn chính sự và tham khảo kế sách), 

Đa nguyên về tôn giáo (Nho - Thích - Đạo tịnh hành, cùng phát triển), 

Đa nguyên về văn hóa (Văn hóa Lý - Trần tiếp thu từ Trung Hoa - Ấn Độ và Chàm).

Chính Đa nguyên và Khai phóng khiến cho thời đại Lý Trần trở thành một thời đại thịnh trị, rực rỡ võ công, văn trị, được coi là một thời đại hoàng kim trong lịch sử trung đại Việt Nam. 

P/S: Được thi triển qua tinh thần:
- Hòa quang đồng trần
- Thượng mã đề thương, hạ mã đề thi
- Học phong Đông A 
- Tam giáo tịnh hành 

4- Nhà văn Dịch giả lão thành Trần Đình Hiến nói về văn hóa Trung Hoa và mô hình chính trị Trung Hoa xưa và nay là một chế độ độc tài. 

5- GS. TS Đỗ Tiến Sâm phát biểu: Chỉ có 3 yếu tố khiến xã hội phát triển và VN cũng không ngoại lệ. Đó là: 1- Công nghệ, 2- Con người và 3 - Thể chế. Công nghệ có thể mua, Con người có thể thuê, đào tạo, nhưng Thể chế thì phải tự thân. Thể chế sẽ quyết định sự phát triển của đất nước!

6- Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nhất trí với nhận xét của GS Đỗ Tiến Sâm (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc), đánh giá buổi tọa đàm là thú vị, nhiều thông tin, nhiều giá trị học thuật và thực tiễn, đồng thời mong muốn được tiếp tục nghe các kết quả nghiên cứu nữa xung quanh chủ đề này.

Cuộc tọa đàm kết thúc vào hồi 10h45 cùng ngày.

Lâm Khang lược thuật.


Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

GS TRẦN VĂN KHÊ NHẬN XÉT LUẬN ÁN TS CỦA NGUYỄN XUÂN DIỆN

Giáo sư Trần Văn Khê giới thiệu về Nguyễn Xuân Diện trước khi Nguyễn Xuân Diện bắt đầu buổi nói chuyện về lịch sử và nghệ thuật Ca trù tại nhà riêng Giáo sư tối 27.01.2010.

NHẬN XÉT CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ 
VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NGUYỄN XUÂN DIỆN

Bản nhận xét về luận án Tiến sĩ Ngữ văn
Đề tài: NGUỒN TƯ LIỆU HÁN NÔM VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU CA TRÙ

Chuyên ngành Hán Nôm

Tác giả:  Thạc sĩ Nguyễn Xuân Diện

Năm vừa qua, trước khi gặp tác giả tại quê nhà, tôi đã đọc được quyển sách Góp phần tìm hiểu lịch sử Ca trù của Nguyễn Xuân Diện. Tôi vô cùng thích thú và ngạc nhiên.


Thích thú vì trước kia khi bắt đầu tìm hiểu Ca trù, tôi chỉ đọc được hai bài viết trên báo Nam Phong của Nguyễn Đôn Phục và Phạm Quỳnh. Sau này, có thêm quyển Việt Nam Ca trù biên khảo của hai tác gỉa Đỗ Trọng Huề và Đỗ Bằng Đoàn. Hôm nay, quyển sách của Nguyễn Xuân Diện đã cho tôi biết thêm rất nhiều sách báo về hát Ca trù mà tôi chưa hề đọc được. Trước kia tôi chỉ biết một quyển Ca trù thể cách mà trong thư mục tác gỉa đã cho tôi biết thêm sáu, bảy quyển Ca trù thể cách khác, lại còn kê khai trên bảy chục văn bia viết bằng chữ Nôm đang được tàng trữ tại Viện Hán Nôm.

Ngạc nhiên vì tác gỉa là một thanh niên lại chịu học Hán Nôm, sưu tầm, nghiên cứu rất nhiều tư liệu về Ca trù và giữ chức vụ Phó Giám đốc Thư viện, ngạc nhiên vì quyển sách là một bước tiến rất mới và rất xa trong việc nghiên cứu Ca trù, vừa mang tính phát hiện, vừa mang tính bao quát, phương pháp áp dụng rất phù hợp với cách nghiên cứu trong các nước tiên tiến, đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế nên có độ tin cậy rất cao. Tôi rất mong khi về nước sẽ gặp được tác gỉa để tỏ lời khen tặng.

Nhờ biết trước khả năng của tác gỉa nên khi tôi làm cố vấn cho việc lập hồ sơ để trình bày những nét đặc thù của ca trù cho UNESCO, tôi đã nghĩ ngay đến em và mời em tham gia viết hồ sơ, cụ thể là phần lịch sử và phát triển ca trù Việt Nam.

Hôm nay, sau khi đọc bản Luận án của em thì tình cảm mến được tăng lên rất nhiều. Nội dung vô cùng phong phú. Công việc sưu tầm, nghiên cứu phân tích và phê phán các văn bia rất phù hợp với những phương pháp khoa học đã được áp dụng trên các nước Âu Mỹ theo phương cách đặt câu hỏi cái gì, ai, ở đâu, lúc nào, như thế nào (what, who, where, when, how) và không quên đối chiếu với những tư liệu khác.

Nhờ đó, có nhiều phát hiện mới mà từ trước đến nay chúng ta chưa được biết. Có những nghi vấn về Ông Tổ của Ca trù, về lúc nào danh từ “Ca trù” được dùng lần đầu tiên thì Luận án này đã đưa ra những bằng chứng đáng tin cậy.

Nhờ Luận án này, chúng ta thấy rõ


không gian biểu diễn Ca trù như hát thờ, hát chơi và hát chúc hỗ (hát chúc thọ nhà Vua hay tiếp Sứ ngoại quốc), 

cách tổ chức giáo phường, lề lối và hoàn cảnh sinh hoạt của các nghệ nhân, nghệ sĩ; 

nắm rõ được các thể cách, thể điệu (chín mươi chín thể cách trong đó có sáu mươi sáu về hát và ngâm và ba mươi ba hát và múa), 

xuất xứ và miêu tả nhạc khí căn bản của Ca trù như phách, đàn đáy, trống chầu; 

kỹ thuật hát (hát khuôn, hát hàng hoa):

các khổ đàn, khổ phách như phách khoan, phách mau, phách theo, phách róc, phách ba, phách hơi, phách vào ba ra bảy…).

Luận án đưa ra bảy kết luận nhưng trong Luận án, chúng ta thấy nhiều điều có thể mở ra những vấn đề nghiên cứu khác nữa.

Văn phong giản dị, ngôn ngữ và chánh tả chính xác. Nội dung và hình thức của Luận án cho phép chúng tôi đánh gía đây là một công trình khoa học tối ưu. 

Nguyễn Xuân Diện đã đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu về lịch sử Ca trù đồng thời cũng cung cấp được nhiều cứ liệu quan trọng trong việc phục hồi không gian văn hóa Ca trù và phát triển nghệ thuật Ca trù.

Mặc dầu đề tài Luận án đặt trọng tâm vào nguồn tư liệu Hán Nôm về việc nghiên cứu Ca trù, chúng tôi đề nghị thêm một phụ lục vào những bài viết đáng kể về Ca trù của các tác gỉa ngoại quốc như Baron trong quyển Histoires curieuses des royaumes du Tonkin et de Laos.

Nên có một bảng ngữ vựng về những thuật ngữ chuyên môn trong Ca trù.

Nên có một danh sách những dĩa hát xưa nay về Ca trù (Beka, Columbia…), những băng ghi âm ghi hình.


Ngày 26 tháng 3 dương lịch, năm 2007.
GS. TS TRẦN Văn Khê
Nguyên Giáo sư Đại học Sorbonne Paris
Nguyên Giám đốc nghiên cứu (Directeur de recherche) Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp. Thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Unesco).
Viện sĩ thông tấn Hàn Lâm viện châu Âu Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật.

 
Bản scan nguyên bản: 


Giáo sư Trần Văn Khê dành cho tôi vinh dự 
được nói chuyện về Ca trù tại tư gia Giáo sư.
 
Nguyễn Xuân Diện

Tháng 1 năm 2010 (trước Tết Âm lịch), nhân chuyến công tác tại TP. Hồ Chí Minh, GS Trần Văn Khê đã dành cho tôi vinh dự được nói chuyện tại nhà riêng của Giáo sư Trần Văn Khê về Ca trù. Buổi nói chuyện nhằm chia sẻ với những người yêu mến nghệ thuật cổ truyền về lịch sử và nghệ thuật Ca trù - bộ môn nghệ thuật vừa được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa thế giới.

Thời gian: 19h30, Thứ Tư, ngày 27 tháng Giêng năm 2010.
Địa điểm: Nhà riêng GS. Trần Văn Khê, 32 Huỳnh Đình Hai,
Phường 24, Quận Bình Thạnh, tp Hồ Chí Minh.

 .

Buổi nói chuyện có sự hiện diện của GS Nguyễn Đăng Hưng, nhà biên khảo Nguyễn Quảng Tuân, TS Nguyễn Nhã và phu nhân, danh cầm Hải Phượng, vợ chồng Luật gia Hoàng Việt, các nhà nghiên cứu ở Học viện âm nhạc quốc gia TP Hồ Chí Minh, các nhà báo và các bạn sinh viên.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH BUỔI NÓI CHUYỆN TẠI NHÀ RIÊNG GS TRẦN VĂN KHÊ:


GS. Trần Văn Khê giới thiệu về Nguyễn Xuân Diện


Nguyễn Xuân Diện bắt đầu buổi thuyết trình bằng việc giới thiệu cuốn sách
Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù (Nxb Thế Giới, 2007)


Đào nương hát ca trù luôn giữ cho khóe miệng hình chữ "nhất"(-)


Thính giả ngồi chật kín căn phòng khách rộng của GS Trần Văn Khê


Nguyễn Xuân Diện nói chuyện say mê


Cùng chụp ảnh chung với Giáo sư Trần văn Khê sau buổi nói chuyện

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

"HOÀNG SA - TRƯỜNG SA, NGHIÊN CỨU TỪ SỬ LIỆU TRUNG QUỐC"

Giới thiệu sách "Hoàng Sa, Trường Sa – Nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc”, 
Tác giả: Phạm Hoàng Quân. Nxb. Văn hóa – Văn nghệ Tp HCM.
Xuất bản quý IV năm 2014.

Ông Phạm Hoàng Quân là một học giả quen biết của làng học thuật Hán Nôm từ nhiều năm nay. Ông đặc biệt được chú ý và đánh giá cao trong tư cách là một học giả chuyên sâu về thư tịch cổ về Biển Đông và chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông.

Là một học giả không có nhiều bằng cấp, Phạm Hoàng Quân sinh ra và theo đuổi nghiệp khảo cứu như một định mệnh tại một vùng đất xa xôi, cách xa trung tâm Sài Gòn. Thực ra, ông cũng từng có thời gian ngắn ngủi mưu sinh tại Sài Gòn nhưng cho dù tinh thông nghề nghiệp, được học giới nể trọng ông cũng không trụ lại được lâu ở đây vì nghiệp nghiên cứu không phải lúc nào cũng nuôi sống được nhà khảo cứu. Lui về quê nhà, xa các thư viện lớn, xa các hiệu sách và xa cộng đồng nghiên cứu, tất cả những điều đó đã tạo cho Phạm Hoàng Quân làm một khách độc hành trên con đường nghiên cứu đòi hỏi sự dấn thân và độc lập.

Từ năm 2009 đến nay, khi những chữ Hoàng Sa – Trường Sa và hai cuộc hải chiến đầy bi tráng của những người lính Việt hai miền được nhắc đến trên báo chí ngày một nhiều thì Phạm Hoàng Quân đã góp mặt bằng các bài viết, bài khảo cứu công phu, nghiêm túc, cẩn trọng. 14 bài nghiên cứu của ông đã được tập hợp trong cuốn sách dày dặn 391 trang “Hoàng Sa, Trường Sa – Nghiên cứu từ sử liệu Trung Quốc”, do nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh xuất bản quý IV năm 2014 là chùm quả đầu mùa ông gửi tặng học giới.


“Từ phân tích tổng quan đến khảo cứu những sử liệu tiêu biểu trong chính sử, phương chí, địa đồ …tác giả đã chứng minh rằng từ thời nhà Hán đến thời nhà Thanh Trung Quốc chưa từng quản lý và xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và vùng Biển Đông Việt Nam”(Bìa 4).

Nhờ sự am hiểu sâu sắc cổ ngữ Hán Nôm, bao quát được nhiều sử liệu của Trung Quốc, kết hợp với nhiều chuyến khảo sát thực địa ở hầu khắp các tỉnh duyên hải miền Trung, đọc rộng các công trình nghiên cứu của người đi trước, không bị ràng buộc bởi thời gian và những e dè của “công chức nghiên cứu”, Phạm Hoàng Quân đã cống hiến cho học giới và đông đảo bạn đọc những chuyên khảo khúc triết, thẳng thắn, rốt ráo và phân minh, giàu sức thuyết phục. “Nhà Nghiên cứu Phạm Hoàng Quân đã góp phần phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc về chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển, hải đảo của Việt Nam trên Biển Đông”(Bìa 4)

Vừa qua, ông Phạm Hoàng Quân đã được
trao tặng Giải thưởng Văn hóa Phan Chu Trinh cao quý với hạng mục “Giải Nghiên cứu” vì các công trình nghiên cứu về Biển Đông của ông. 

Giải thưởng này có thể xem là một khích lệ rất ý nghĩa đối với các học giả độc lập đang miệt mài dành hết tâm huyết cho sự phát triển học thuật nói chung, cho sự nghiệp đấu tranh về chủ quyền nói riêng.

Hà Nội ngày 27 tháng 2 năm 2015