Hiển thị các bài đăng có nhãn Ca trù. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ca trù. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015

CA TRÙ - QUA MỘT CUỘC TRANH LUẬN NHỎ VỚI NS ĐẶNG HỮU PHÚC


VÀI SUY NGHĨ VỀ CA TRÙ

Nhà soạn nhạc Đặng Hữu Phúc
Đã đăng trên VNMUSIC.ORG

1/ Ca trù chỉ là một hình thức ngâm thơ mà thôi. Ngâm thơ tiếng Việt có rất nhiều kiểu ngâm mà ta khó có thể kể hết, ở cả 3 miền Bắc Trung Nam đều có, ví như Chèo có rất nhiều kiểu ngâm như nói Sử, nói lửng, nói lệch, các loại vỉa hề gậy, hề mồi… rồi ngâm thơ trong Tuồng, trong ca Huế, Cải lương vv…và vv.


Đặc điểm của Ngâm thơ, nhìn từ góc độ âm nhạc là: 

So với đọc thơ kiểu bạch thoại, nó đã có bước tiến hơn về cao độ cũng như tiết tấu, nhưng Ngâm thơ vẫn chỉ là Tiền giai điệu mà thôi, chưa đạt tới hình thành giai điệu như các làn điệu Quan Họ, Chèo, các bài Lý, các bài dân ca...

Vì vậy nghe Ca trù thì chủ yếu là nghe thơ được ngâm lên một cách độc đáo nhiều hơn là nghe nhạc. (Đấy là ta chưa kể thơ ngâm trong ca trù phần nhiều là thơ cổ của Tàu, như bài nổi tiếng nhất của ca trù là bài “Tỳ Bà Hành” thơ của Bạch Cư Dị)

Nếu bỏ phần lời văn học đi, tách riêng giai điệu thì các hình thức Ngâm thơ chưa hình thành giai điệu có cao độ tiết tấu cụ thể, hoàn chỉnh. Vì vậy nếu kéo dài nó sẽ ê a, đều đều, dễ gây buồn ngủ.

Ta thấy rất rõ là: Những giai điệu của các bài dân ca đã bỏ lời, ta có thể chơi trên các nhạc cụ dân tộc cũng như các nhạc cụ phương Tây đều rất độc lập, hoàn chỉnh, nó đã có đôi cánh là âm nhạc. Nhưng thử hỏi giai điệu của Ca trù nếu bỏ lời thì có thể trở thành những giai điệu độc lập không? Không được, bỏ lời thì cũng hết Ca trù, nó chỉ có vài kiểu ngâm (air) khác nhau mà thôi, gần với kiểu mà phương Tây gọi là Recitatif, nghĩa là hát nói

2/ Về phần âm nhạc, ca trù là một hình thức nghệ thuật truyền khẩu, dân gian, chưa được ghi thành văn bản, ngay một người hát thì mỗi lần lại tuỳ hứng hát khác nhau. Chủ yếu dựa trên một arpeger gam thứ ( Ví giặm của Nghệ Tĩnh cũng vậy)

Vì vậy gọi là dòng nhạc Bác học nghe không ổn. Chỉ phần lời ca dùng thơ cổ bác học chứ phần âm nhạc hoàn toàn chỉ là truyền khẩu thì sao có thể gọi là nhạc Bác học được! Nếu có thể gọi cho thật đúng thì là: thơ bác học được ngâm theo lối dân gian truyền khẩu.

Nghệ thuật bác học phải là của các cá nhân, các thiên tài cụ thể, chứ không thể là sự truyền khẩu tam sao thất bản của một nhóm người, phường hội.

Ta có thể thấy cái ta vẫn gọi là Âm nhạc bác học của phương Tây thì đó là một dòng nhạc đầu tiên cũng xuất phát từ dân gian, nhưng đã được ghi chép, đã phát triển lên cao dần dần thành khoa học, thành các hệ thống qua các tác giả như Bach, Beethoven, Mozart, Chopin….Đến Bartok, Stravinsky…vv.

3/ Ta nên có cái nhìn tỉnh táo khách quan về Ca trù, đánh giá đúng giá trị của nó một cách khoa học, thấy cái hay cái đẹp cũng như những giới hạn của nó.

Và tôi muốn nhắc lại rằng : Ca trù chỉ là một hình thức ngâm thơ mà thôi
Ta đừng để cái nhìn về nó lẫn với lòng tự hào dân tộc “con Rồng cháu Tiên”, tự tôn dân tộc thái quá!

____________

Mấy suy nghĩ về ca trù nhân một cuộc tranh luận

Ths Mai Văn Lạng
Soạn giả, công tác tại Đài TNVN

Chiều nay đang ngồi làm việc thì một người bạn Fb inbox, cậu vào đây mà xem, có chuyện “Xôm trò lắm“, rồi dẫn đường link. Tôi vào đọc thì quả là xôm trò thật. Nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc, một nhạc sĩ khá tiếng tăm đã viết một bài dài về ca trù trong đó ông nhắc đi nhắc lại luận điểm của mình cho rằng ca trù chỉ là một lối ngâm thơ, không phải là nghệ thuật bác học. Ông lý luận vì ca trù không ký âm được nốt nhạc, bỏ thơ đi thì không thể hát, không có giai điệu đôc lập v.v. 


Là một người yêu, say mê ca trù, có nhiều năm nghiên cứu về bộ môn nghệ thuật này, có chương trình phát thanh đặc biệt về loại hình nghệ thuật này được giải Chuông Vàng, giải cao nhất tại Liên hoan phát thanh Châu á thái Bình Dương năm 2001, lại đang phụ trách chương trình dân ca và nhạc cổ truyền trên Đài TNVN xin phép được trao đổi vấn đề này một chút:

1- Nói ca trù là nghệ thuật bác học là nói cả 5 yếu tố kiến tạo nên: Giọng hát, tiếng đàn, phách, trống chầu và lời ca. Sự hòa quyện giữa 5 yếu tố này làm nên sự Bác học của ca trù. 

2- Vậy bác học là gì? Theo như sự hiểu biết của tôi Bác học là một loại hình nghệ thuật nó vừa tinh tế, trí tuệ trong nội dung nhưng cũng đẹp, cũng sang về hình thức. Nó đòi hỏi sự chuyên sâu đến độ tinh xảo cả người trình diễn và người thưởng thức. 

Trở lại câu chuyện về nghệ thuật ca trù. Vì sao gọi bộ môn nghệ thuật này là nghệ thuật bác học? Trước hết đó là nghệ thuật trình diễn: sự rung, ngân, nhấn vuốt của từng câu, từng chữ trong giọng hát, luyến láy của tiếng đàn, tiếng phách, lúc khoan nhặt, lúc mau thưa, lời ca ý tứ sâu xa . . . tiếng trống điểm v v . . . Sự ăn ý của Quan viên cầm chầu (đồng thời là tác giả bài ca), kép đàn và đào nương. Cái khó, cái đặc biệt trong ca trù còn ở chỗ đào nương không chỉ cần một giọng hát vang, rền, nảy mà còn phải biết gõ phách. Tiếng phách như linh hồn của bài ca, chỉ cần nghe tiếng phách hiểu tâm sự của đào nương, của ý thơ trong bài v v . . bác học còn ở trong lời ca. Tiếng đàn đáy trầm đục, tiếng phách giòn tan, tiếng hát của đào nương ngân vang, tiếng trống chầu điểm xuyết . . . tất cả đã làm nên vẻ thanh tao, lịch lãm, lỗi diễn xướng đọc đáo của ca trù. Một yếu tố làm nên tính bác học của ca trù đó chính là lời ca. Từ xưa đến nay viết lời cho ca trù được cho là hay chính là các nhà thơ lớn của dân tộc. Các bài ca còn lại cho đến nay của ca trù đều là những bài thơ hay, nếu không muốn nói tuyệt tác của thi ca. Ngoài ra, gọi ca trù là yếu tố bác học còn bao gồm cả việc trình diễn, lối diễn xướng, ca trù không thể hát ở mọi nơi và không phải người dân nào cũng được xem và biết thưởng thức. Đây là lối ca hát thính phòng nó đòi hỏi sự tinh tế của cả người biểu diễn và người thưởng thức. 

3 - Tuy nhiên thì từ xưa đến nay khi nghiên cứu nghệ thuật ca trù, các nhà nghiên cứu đều nói nghệ thuật ca trù đều dùng các thuật ngữ “Ca trù là loại hình nghệ thuật vừa tính dân gian vừa mang tính bác học“. Phải chăng cái tính dân gian chính là cũng có nhiều làn điệu ca trù được lấy từ dân ca, rồi được ca trù hóa.

4 - Có lẽ nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc chưa nghe hết các làn điệu, hay còn gọi là thể cách ca trù mà chỉ nghe mấy thể cách quen thuộc đang phổ biến nên quy cho ca trù là một lối ngâm thơ. Xin thưa “Hát ru, hát giai” điệu hát cũng khá phổ biến là có giai điệu, nhịp phách đấy chứ, hay là hát “Chúc hỗ “ chẳng hạn v v . . . đặc biệt là bài “ 36 giọng “ chẳng hạn

Nói chung, nhiều thập kỷ qua những nhà nghiên cứu hàng đầu của âm nhạc Việt Nam đều đã đi đến thống nhất về tên gọi cũng như đánh giá một cách khách quan về ca trù. Thế giới cũng đã công nhận ca trù là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Cái nhìn của Nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc là cách nhìn của một người SÀNH âm nhạc phương Tây, lấy âm nhạc phương Tây soi chiếu vào nghệ thuật âm nhạc Việt Nam không tránh khỏi phiến diện. Cái này không chỉ mình nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc, tôi nghĩ cũng còn nhiều nhạc sĩ, nghệ sĩ hiểu chưa đúng, chưa sâu về âm nhạc dân tộc và RẺ RÚNG nghệ thuật dân tộc.

Hà nội ngày 13/8/2015
Mai Văn Lạng

Xem bài của nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc:
https://www.facebook.com/nhacsidanghuuphuc?fref=ts
_______

Ý kiến của Thạc sĩ Đào Tiến Thi

Trao đổi học thuật trên FB như thế này thật khó. VÌ phải nói dài, nói có biện giải. Nhưng tôi cảm nhận anh Đặng Hữu Phúc quá phiến diện và mắc cái bệnh "dĩ Âu vi trung". Nhưng hãy khoan nói điều đó. Tôi chỉ nêu cái mâu thuẫn của anh: lẽ nào thơ thì bác học mà lại đi với nhạc dân gian, tuỳ hứng? Rồi khi xét đây là một nghệ thuật, thì anh có xét yếu tố người thưởng thức, đặc biệt là sự giao thoa, tương tác giữa người biểu diễn và người thưởng thức không? Ai thưởng thức ca trù? Người bình dân có hiểu và thích những câu như "Tầm Dương giang đầu dạ tống khách", "Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân",...? Xưa nay những người nổi tiếng trong làng ca trù là ai? Rõ ràng không chỉ là trí thức mà còn phải là trí thức tài hoa đặc biệt: Nguyễn Khản, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Tuân,...


Kể thêm câu chuyện này: Có lần nhân 1 cuộc tụ tập của nhà văn mà người ta mời bà Quách Thị Hồ đến hát, Nguyễn Tuân cầm chầu. Quách Thị Hồ hát, Nguyễn Tuân cầm chầu thì nhất rồi còn gì? Nhưng buổi đó không thành. Bác Nguyễn vụt trống chầu loạn lên làm bà HỒ không hát được. Là vì đám đông nhà văn trẻ chẳng thích nghe gì ca trù, cứ tán chuỵên làm bác Nguyễn cáu. Bác vụt trống lung tung để phản ứng lại rồi đứng lên nói: "Từ giờ đã hát ca trù thì đừng có mời các bố trẻ đến nhé".

Nói thêm về ý anh Đặng Hữu Phúc nó rằng "Thơ ngâm trong ca trù phần nhiều là thơ cổ của Tàu, như bài nổi tiếng nhất của ca trù là bài “Tỳ Bà Hành” thơ của Bạch Cư Dị"

Thứ nhất, thơ ngâm trong ca trù KHÔNG PHẢI phần nhiều là thơ cổ của Tàu. Chỉ có vài bài là thơ cổ TQ thôi: Tỳ bà hành, Vịnh tiền Xích Bích, Vịnh hậu Xích Bích. Thơ ca trù chủ yếu là thơ của các nhà thơ VN nổi tiếng từ tk XVII đến đầu tk XX: Lê Đức Mao, Nguyễn Khản, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương, Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng, …

Thứ hai, Bài Tỳ bà hành thì đã được Việt hoá cao độ qua lời dịch thơ tài hoa của Phan Huy Vịnh. Nội dung cảm hứng thì chẳng có gì đặc trưng riêng của Tàu mà là của trí thức phong kiến phương Đông nói chung: người trí thức tài hoa bị ruồng bỏ tìm được tiếng nói tri âm của người ca nữ cô đơn: “Cùng một lứa bên trời lận đận”.

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

TRẦN VĂN KHÊ - MỘT BIỂU TƯỢNG LỚN, MỘT NHÂN CÁCH LỚN



'Sẽ không ai thay thế
được GS-TS Trần Văn Khê'


Khánh An-VOA

VOA
24.06.2015

GS-TS. Trần Văn Khê, một cây “đại thụ” trong làng văn hóa Việt Nam, vừa từ trần vào lúc 2:55 ngày 24/6/2015 ở tuổi 94. Với bề dày đồ sộ các công trình nghiên cứu âm nhạc, ông là thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO và là người có công đầu trong việc giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam đến với thế giới. Ngoài vốn kiến thức lỗi lạc, GS-TS. Trần Văn Khê còn được giới văn nghệ sĩ Việt Nam kính phục vì những phẩm chất đáng quý của một người làm văn hóa một cách nghiêm túc và tử tế.


GS-TS. Trần Văn Khê sinh ra trong một gia đình được xem là “nhà nòi” làm nghệ thuật. Gia đình ông có bốn đời chuyên về âm nhạc truyền thống. Cụ cố Trần Quang Thọ là nhạc ông triều đình Huế trước đây. Ông nội là Trần Quang Diệm biết đàn kìm, đàn tranh, đàn tỳ bà. Cha là Trần Quang Triều biết nhiều nhạc cụ, đặc biệt là độc huyền cầm và đờn kìm.

Cụ cố ngoại là Nguyễn Tri Phương làm đến chức Khâm sai Kinh Lược Nam Kỳ. Ngoại tổ là Nguyễn Tri Túc vốn là người đã nuôi rất nhiều nhạc sĩ danh tiếng vùng Cần Đước, Vĩnh Kim. Các cô, cậu họ hàng của GS-TS. Trần Văn Khê cũng là những người đã góp phần trong kho tàng âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Tuy nhiên, ông lại bị mồ côi rất sớm. 9 tuổi ông mất mẹ, 10 tuổi mất cha. Trong cuốn tự truyện rất được mến mộ, GS-TS. Trần Văn Khê xem biến cố đau thương này vừa là nghịch cảnh, lại vừa là động lực cho ông cố gắng hoàn thiện mình trên mỗi bước đường đời.

Thuở bé, GS-TS. Trần Văn Khê đã tỏ ra rất sáng dạ. Ông là một trong hai người duy nhất trong tỉnh đậu bằng chữ Hán khi mới học tiểu học. Lên trung học, ông được cấp học bổng vào trường Trương Vĩnh Ký và năm nào ông cũng đứng đầu lớp. Hoàn tất trung học, ông lại được cấp học bổng đặc biệt của chính phủ thuộc địa để ra Hà Nội học Y khoa. Nhưng đến năm thứ nhì thì vấn đề sức khỏe và sự kiện phong trào “Xếp bút nghiên” đã khiến ông phải bỏ dở trường thuốc.

Sau đó, ông sang Pháp và thi đậu vào trường chính trị nổi tiếng Sciences Po ở Paris. Rồi ông sang La Haye học Luật quốc tế và được tuyển vào làm thư ký quốc tế cho Liên Hiệp Quốc. Năm 1952, ông ghi tên soạn luận án tiến sĩ đại học Paris. Năm 1954 – 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị làm luận án tiến sĩ. Đến tháng 6/1958, ông đậu tối ưu tiến sĩ Văn khoa, môn Nhạc học tại đại học Sorbonne, với luận án chính về âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Một biểu tượng của văn hóa Việt Nam

.
Sự nghiệp nghiên cứu và đóng góp của ông cho âm nhạc truyền thống Việt Nam cho tới nay không ai có thể sánh bằng. Ông là người đã có công đầu trong việc giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam với thế giới.

TS. Nguyễn Xuân Diện, người có vinh dự được làm việc cùng với ông trong thời gian làm hồ sơ đề nghị đưa ca trù Việt Nam vào UNESCO cho biết:

“Tất cả những hoạt động của ông từ nửa thế kỷ nay đều phụng sự cho văn hóa, âm nhạc Việt Nam, giới thiệu văn hóa, âm nhạc Việt Nam đi khắp năm châu bốn bể. Ông có những việc làm để gìn giữ tất cả những nét đẹp tinh hoa của Việt Nam trong văn hóa và âm nhạc. Chúng ta nhớ là năm 1976, khi mà quan họ, ca trù có một đời sống lay lắt thì GS. Trần Văn Khê trở về và ghi những đĩa hát về quan họ và ca trù, ghi âm với những nghệ nhân giỏi nhất thời bấy giờ, để đi giới thiệu với UNESCO, cho UNESCO in ra 400 đĩa gửi đi khắp nơi. Sau đó, nó có một tiếng vọng rất lớn trở lại Việt Nam. GS. Trần Văn Khê đã qua đời nhưng tất cả di sản đồ sộ cũng như những cống hiến lớn lao của ông đã khiến ông trở thành một biểu tượng của văn hóa Việt Nam”.

Một nhân cách lớn

Làm việc nghiêm túc nhưng rất bình dị, gần gũi, quan tâm đến những người xung quanh là đặc điểm khiến cho nhiều người có dịp làm việc với GS-TS. Trần Văn Khê kính phục và yêu mến ông. Đạo diễn Tấn Phát, người đã cùng làm việc với ông gần đây nhất trong chuỗi chương trình "Vinh danh văn hoá Nam bộ", kể:

“Thầy vô cùng bình dị. Ngày xưa khi chưa gặp thầy, tôi nghĩ một người lỗi lạc như thầy chắc có lẽ phải cao sang, cao xa. Nhưng khi làm việc với thầy thì thầy rất bình dị, từ cách ăn mặc đến cách giao tiếp. Đối với mọi người, thầy rất quan tâm, chu đáo. Người nào thầy đã gặp rồi thì thầy nhớ. Cuộc sống thầy cũng rất đơn giản. Căn phòng thầy ở, món ăn thầy ăn đều rất đơn giản và dân tộc. Đó là một trong những điều khiến tôi khâm phục thầy nhất”.

TS. Nguyễn Xuân Diện rất nể phục GS-TS. Trần Văn Khê về tính công tâm, minh bạch trong công việc. Ông kể:

“GS. Trần Văn Khê luôn là một người thật sự công tâm, khách quan, minh bạch. GS. Trần Văn Khê được chính phủ Việt Nam mời về để làm cố vấn cho việc trình hồ sơ lên UNESCO cho ca trù Việt Nam, giáo sư đã yêu cầu Viện Âm nhạc và Bộ Văn hóa mời tôi để viết phần lịch sử và sự phát triển của ca trù. GS. Trần Văn Khê có gọi tôi đến và yêu cầu tôi phải đưa ra những tư liệu xác thực nhất, có thể kiểm chứng được trên thực tế, không được dựa trên những huyền thoại, truyền thuyết, mà phải dựa trên những tài liệu xác đáng bằng văn bia và các tài liệu Hán Nôm”.

TS. Diện kể trong một lần khác, chính phủ Việt Nam đề nghị giáo sư đưa môn đờn ca tài tử (vốn là sở trường của ông) trình lên UNESCO để được công nhân là văn hóa phi vật thể, giáo sư đã từ chối với lý lẽ đờn ca tài tử tuy đặc biệt nhưng vẫn xếp sau một số bộ môn nghệ thuật khác.

Tuy sự ra đi của GS-TS. Trần Văn Khê đã được dự báo trước, nhưng nhiều người không khỏi bồi hồi, luyến tiếc. Đạo diễn Tấn Phát nhận định việc mất đi GS-TS. Trần Văn Khê là một mất mát to lớn cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung. Đạo diễn nói:

“Sẽ không có người thay thế. Có thể sau này có người tài ba hơn thầy, giỏi hơn thầy, nhưng vị trí, ý nghĩa xã hội, ý nghĩa cuộc sống của thầy Trần Văn Khê là sẽ không thay thế được”.

Ngay cả đến lúc cuối đời, GS-TS. Trần Văn Khê cũng khiến cho nhiều người phải ngả mũ kính phục ông vì những sắp xếp hậu sự qua bản di chúc, trong đó, ông tiếp tục cống hiến phần tài sản cuối cùng cho những công việc lưu truyền và phát huy văn hóa Việt Nam. Ông cũng không quên sắp xếp cuộc sống cho người giúp việc đã đỡ đần ông trong nhiều năm cuối đời.


.

GS TRẦN VĂN KHÊ NHẬN XÉT LUẬN ÁN TS CỦA NGUYỄN XUÂN DIỆN

Giáo sư Trần Văn Khê giới thiệu về Nguyễn Xuân Diện trước khi Nguyễn Xuân Diện bắt đầu buổi nói chuyện về lịch sử và nghệ thuật Ca trù tại nhà riêng Giáo sư tối 27.01.2010.

NHẬN XÉT CỦA GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ 
VỀ LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NGUYỄN XUÂN DIỆN

Bản nhận xét về luận án Tiến sĩ Ngữ văn
Đề tài: NGUỒN TƯ LIỆU HÁN NÔM VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU CA TRÙ

Chuyên ngành Hán Nôm

Tác giả:  Thạc sĩ Nguyễn Xuân Diện

Năm vừa qua, trước khi gặp tác giả tại quê nhà, tôi đã đọc được quyển sách Góp phần tìm hiểu lịch sử Ca trù của Nguyễn Xuân Diện. Tôi vô cùng thích thú và ngạc nhiên.


Thích thú vì trước kia khi bắt đầu tìm hiểu Ca trù, tôi chỉ đọc được hai bài viết trên báo Nam Phong của Nguyễn Đôn Phục và Phạm Quỳnh. Sau này, có thêm quyển Việt Nam Ca trù biên khảo của hai tác gỉa Đỗ Trọng Huề và Đỗ Bằng Đoàn. Hôm nay, quyển sách của Nguyễn Xuân Diện đã cho tôi biết thêm rất nhiều sách báo về hát Ca trù mà tôi chưa hề đọc được. Trước kia tôi chỉ biết một quyển Ca trù thể cách mà trong thư mục tác gỉa đã cho tôi biết thêm sáu, bảy quyển Ca trù thể cách khác, lại còn kê khai trên bảy chục văn bia viết bằng chữ Nôm đang được tàng trữ tại Viện Hán Nôm.

Ngạc nhiên vì tác gỉa là một thanh niên lại chịu học Hán Nôm, sưu tầm, nghiên cứu rất nhiều tư liệu về Ca trù và giữ chức vụ Phó Giám đốc Thư viện, ngạc nhiên vì quyển sách là một bước tiến rất mới và rất xa trong việc nghiên cứu Ca trù, vừa mang tính phát hiện, vừa mang tính bao quát, phương pháp áp dụng rất phù hợp với cách nghiên cứu trong các nước tiên tiến, đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế nên có độ tin cậy rất cao. Tôi rất mong khi về nước sẽ gặp được tác gỉa để tỏ lời khen tặng.

Nhờ biết trước khả năng của tác gỉa nên khi tôi làm cố vấn cho việc lập hồ sơ để trình bày những nét đặc thù của ca trù cho UNESCO, tôi đã nghĩ ngay đến em và mời em tham gia viết hồ sơ, cụ thể là phần lịch sử và phát triển ca trù Việt Nam.

Hôm nay, sau khi đọc bản Luận án của em thì tình cảm mến được tăng lên rất nhiều. Nội dung vô cùng phong phú. Công việc sưu tầm, nghiên cứu phân tích và phê phán các văn bia rất phù hợp với những phương pháp khoa học đã được áp dụng trên các nước Âu Mỹ theo phương cách đặt câu hỏi cái gì, ai, ở đâu, lúc nào, như thế nào (what, who, where, when, how) và không quên đối chiếu với những tư liệu khác.

Nhờ đó, có nhiều phát hiện mới mà từ trước đến nay chúng ta chưa được biết. Có những nghi vấn về Ông Tổ của Ca trù, về lúc nào danh từ “Ca trù” được dùng lần đầu tiên thì Luận án này đã đưa ra những bằng chứng đáng tin cậy.

Nhờ Luận án này, chúng ta thấy rõ


không gian biểu diễn Ca trù như hát thờ, hát chơi và hát chúc hỗ (hát chúc thọ nhà Vua hay tiếp Sứ ngoại quốc), 

cách tổ chức giáo phường, lề lối và hoàn cảnh sinh hoạt của các nghệ nhân, nghệ sĩ; 

nắm rõ được các thể cách, thể điệu (chín mươi chín thể cách trong đó có sáu mươi sáu về hát và ngâm và ba mươi ba hát và múa), 

xuất xứ và miêu tả nhạc khí căn bản của Ca trù như phách, đàn đáy, trống chầu; 

kỹ thuật hát (hát khuôn, hát hàng hoa):

các khổ đàn, khổ phách như phách khoan, phách mau, phách theo, phách róc, phách ba, phách hơi, phách vào ba ra bảy…).

Luận án đưa ra bảy kết luận nhưng trong Luận án, chúng ta thấy nhiều điều có thể mở ra những vấn đề nghiên cứu khác nữa.

Văn phong giản dị, ngôn ngữ và chánh tả chính xác. Nội dung và hình thức của Luận án cho phép chúng tôi đánh gía đây là một công trình khoa học tối ưu. 

Nguyễn Xuân Diện đã đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu về lịch sử Ca trù đồng thời cũng cung cấp được nhiều cứ liệu quan trọng trong việc phục hồi không gian văn hóa Ca trù và phát triển nghệ thuật Ca trù.

Mặc dầu đề tài Luận án đặt trọng tâm vào nguồn tư liệu Hán Nôm về việc nghiên cứu Ca trù, chúng tôi đề nghị thêm một phụ lục vào những bài viết đáng kể về Ca trù của các tác gỉa ngoại quốc như Baron trong quyển Histoires curieuses des royaumes du Tonkin et de Laos.

Nên có một bảng ngữ vựng về những thuật ngữ chuyên môn trong Ca trù.

Nên có một danh sách những dĩa hát xưa nay về Ca trù (Beka, Columbia…), những băng ghi âm ghi hình.


Ngày 26 tháng 3 dương lịch, năm 2007.
GS. TS TRẦN Văn Khê
Nguyên Giáo sư Đại học Sorbonne Paris
Nguyên Giám đốc nghiên cứu (Directeur de recherche) Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp. Thành viên danh dự Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Unesco).
Viện sĩ thông tấn Hàn Lâm viện châu Âu Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật.

 
Bản scan nguyên bản: 


Giáo sư Trần Văn Khê dành cho tôi vinh dự 
được nói chuyện về Ca trù tại tư gia Giáo sư.
 
Nguyễn Xuân Diện

Tháng 1 năm 2010 (trước Tết Âm lịch), nhân chuyến công tác tại TP. Hồ Chí Minh, GS Trần Văn Khê đã dành cho tôi vinh dự được nói chuyện tại nhà riêng của Giáo sư Trần Văn Khê về Ca trù. Buổi nói chuyện nhằm chia sẻ với những người yêu mến nghệ thuật cổ truyền về lịch sử và nghệ thuật Ca trù - bộ môn nghệ thuật vừa được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa thế giới.

Thời gian: 19h30, Thứ Tư, ngày 27 tháng Giêng năm 2010.
Địa điểm: Nhà riêng GS. Trần Văn Khê, 32 Huỳnh Đình Hai,
Phường 24, Quận Bình Thạnh, tp Hồ Chí Minh.

 .

Buổi nói chuyện có sự hiện diện của GS Nguyễn Đăng Hưng, nhà biên khảo Nguyễn Quảng Tuân, TS Nguyễn Nhã và phu nhân, danh cầm Hải Phượng, vợ chồng Luật gia Hoàng Việt, các nhà nghiên cứu ở Học viện âm nhạc quốc gia TP Hồ Chí Minh, các nhà báo và các bạn sinh viên.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH BUỔI NÓI CHUYỆN TẠI NHÀ RIÊNG GS TRẦN VĂN KHÊ:


GS. Trần Văn Khê giới thiệu về Nguyễn Xuân Diện


Nguyễn Xuân Diện bắt đầu buổi thuyết trình bằng việc giới thiệu cuốn sách
Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù (Nxb Thế Giới, 2007)


Đào nương hát ca trù luôn giữ cho khóe miệng hình chữ "nhất"(-)


Thính giả ngồi chật kín căn phòng khách rộng của GS Trần Văn Khê


Nguyễn Xuân Diện nói chuyện say mê


Cùng chụp ảnh chung với Giáo sư Trần văn Khê sau buổi nói chuyện